vanban.org

Bản án 29/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cờ Đỏ, TP. Cần Thơ Tuyên án 23/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

1 Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Tổ chức đánh bạc” Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/7/2022 đến ngày 13/10/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tổ chức đánh bạc - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 322 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỜ ĐỎ
TP. CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 29/2022/HS-ST
Ngày 23-11-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, TP. CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Viễn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Thanh Vũ

2. Bà Lê Thị Xuân Hiền

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, TP. Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Mạc Thị Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 11 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 29/2022/TLHS-ST ngày 28 tháng 10 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Bị cáo Nguyễn Thị T, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Ấp Đ, xã Đ, huyện C, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị T (chết); Chồng Trần Thanh H (đã ly hôn); Có 02 con lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2010; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 05/7/2022 đến ngày 13/10/2022 thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh.

Bị cáo tại ngoại “có mặt”.

2. Bị cáo Nguyễn Thị H, sinh năm 1952; Nơi cư trú: Ấp Đ, xã Đ, huyện C, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: nội trợ; Trình độ văn hóa: không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L (chết) và bà Đặng Hồng H (chết); Chồng Nguyễn Văn H; Có 08 con lớn nhất sinh năm 1974, nhỏ nhất sinh năm 1992.

Tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 13/5/2022 Công an xã Đ, huyện C, thành phố Cần Thơ xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000đồng về hành vi đánh bạc trái phép, nộp phạt ngày 02/6/2022.

Bị cáo tại ngoại “có mặt”

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Ông Đỗ Văn T, sinh năm 1969 “có mặt”

Bà Huỳnh Thị D, sinh năm 1962 “vắng mặt”

Ông Phan Hữu T, sinh năm 1980 “vắng mặt”

Bà Trần Thị T, sinh năm 1958 “vắng mặt”

Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1969 “vắng mặt”

Ông Trần Thị S, sinh năm 1980 “có mặt”

Bà Mai Thị Huệ C, sinh năm 1971 “vắng mặt”

Bà Quách Thị P, sinh năm 1977 “vắng mặt”

Ông Trần Nam K, sinh năm 1978 “có mặt”

Nơi cư trú: Ấp Đ, xã Đ, huyện C, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nhận được tin báo từ người dân, bị cáo Nguyễn Thị T và ông Đỗ Văn T có hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi bán số đề. Vào lúc 16 giờ 40 phút, ngày 04/7/2022 Phòng PC 02 Công an thành phố Cần Thơ phối hợp với cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C, thành phố Cần Thơ, khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo Nguyễn Thị T tại số 2/1 ấp Đ, xã Đ, huyện C, thành phố Cần Thơ.

Vật chứng thu giữ gồm:

- 03 tờ giấy tập học sinh bên trong có ghi các con số;

- 01 tờ lịch phía sau có ghi các con số;

- Tiền Việt Nam 30.050.000 đồng (thu trong ngăn bàn tại phòng ngủ);

- 01 tờ giấy tập học sinh bên trong có ghi các con số;

- 01 viết mực màu xanh; 01 viết mực màu đỏ (thu trên mặt bàn tại phòng ngủ);

- 01 tờ giấy tập học sinh có ghi các con số đã bị xé và vò nát;

- 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A20S màu trắng đã bị vỡ màng hình (thu tại khu vực bồn vệ sinh trong phòng ngủ); tiền Việt Nam 3.000.000 đồng (thu trên người Nguyễn Thị T);

- 01 con dao cán bằng gỗ dài 13,5 cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 30 cm;

- 01 con dao cán bằng gỗ dài 13,5 cm, lưỡi bầu, sắc nhọn làm bằng kim loại màu trắng dài 32 cm (thu trên đầu tủ gỗ phía trước phòng ngủ).

Vào lúc 16 giờ 40 phút, ngày 04/7/2022 tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của ông Đỗ Văn T tại ấp Đ, xã Đ, huyện C, thành phố Cần Thơ.

Vật chứng thu giữ:

- 02 tờ giấy có ghi các con số;

- 01 máy tính Casio;

- 04 viết mực màu xanh (thu trên bàn nhựa tại nhà bếp);

- 01 điện thoại di động Nokia C1 màu xanh;

- 01 điện thoại di động Samsung Galaxy J3 (thu trên đầu tủ lạnh tại nhà bếp);

- Tiền Việt Nam 2.320.000 đồng (thu trong túi quần của Đỗ Văn T treo trên vách tại nhà bếp);

- 01 xe mô tô 65K1 - 119.55;

- 01 điện thoại di động Oppo A5S (thu trên người Đỗ Văn T).

Quá trình điều tra xác định được: Từ giữa tháng 03/2022 bị cáo Nguyễn Thị T bắt đầu tổ chức nhận phơi số đề từ người khác rồi nộp cho Nguyễn Thị Hoài M và B (không rõ họ tên và địa chỉ) để hưởng tiền huê hồng. Hàng ngày bị cáo sử dụng điện thoại di động Samsung Galaxy A20S màu trắng có sim số 0907740067; 0799669566 nhận phơi đề do người khác chuyển đến bằng hình thức chụp hình gửi qua ứng dụng Zalo và điện thoại trực tiếp cho bị cáo. Hình thức ăn thua đối với lô A, B bao lô 02 con số mua 1.000đồng trúng 80.000đồng, bao lô 03 con số và số đá 1.000đồng trúng 500.000đồng, các tay em nộp phơi cho bị cáo hưởng 15% trên tổng số tiền bán lô A, B và hưởng 500đồng đối với bao lô. Sau đó, bị cáo nộp cho phơi cho đối tượng B và M hưởng huê hồng 2% trên tổng số tiền lô A, B và hưởng 100đồng đối với bao lô.

Ngày 04/7/2022, bị cáo nhận phơi đề của 10 người với tổng số tiền đài Đồng Tháp 42.570.500đồng, trúng 42.320.000đồng, đài Cà Mau 14.365.750đồng, trúng 8.720.000đồng, đài thành phố Hồ Chí Minh 14.365.750đồng, trúng 13.840.000đồng; trong đó nhận phơi đề từ ních Zalo "Mỹ N" của N (không rõ họ tên và địa chỉ), ních Zalo "Ngọc A" của Ngọc A (không rõ họ tên và địa chỉ), ních Zalo "Hồng Huệ" của Mai Thị Huệ C, ních Zalo "Thuỷ" của Thuỷ (không rõ họ tên và địa chỉ), ních Zalo "N" của N (không rõ họ tên và địa chỉ), ních Zalo "Cô P" của P (không rõ họ tên và địa chỉ), ních Zalo " Huệ" của Hồng E (không rõ họ tên và địa chỉ) và nhận phơi trực tiếp qua số điện thoại 0907379476 do Quách Thị P giao nộp, nhận từ số điện thoại 0939620429 do Phong (không rõ họ tên và địa chỉ), nhận từ Đỗ Văn T. Bị cáo nộp lại cho Nguyễn Thị Hoài M qua ních Zalo "P" đài Đồng Tháp 50.255.750đồng (gồm tiền phơi và trúng), đài Cà Mau 17.930.000đồng (tiền phơi và trúng), đài thành phố Hồ Chí Minh 18.250.000đồng (tiền phơi và trúng); nộp cho B qua ních Zalo "Lúa về" đài Đồng Tháp 25.904.500đồng (tiền phơi và trúng), đài thành phố Hồ Chí Minh 9.900.500đồng (tiền phơi và trúng), đài Cà Mau 5.100.500đồng (tiền phơi và trúng). Ngoài ra, bị cáo giữ lại ăn thua trực tiếp với người nộp phơi đài Đồng Tháp 8.730.250đồng, đài Cà Mau 55.250đồng, đài thành phố Hồ Chí Minh 55.250đồng.

Ngoài ra, quá trình khám xét còn thu giữ: 01 tờ phơi không xác định ngày và đài nào với tổng số tiền trên phơi 9.493.750đồng, 02 tờ phơi đài An Giang không xác định ngày nào số tiền 21.629.250đồng, 02 tờ phơi đài Tây Ninh không xác định ngày số tiền 6.630.000đồng, 02 tờ phơi đài B Thuận không xác định ngày số tiền 6.630.000đồng.

Trong thời gian ghi bán số đề bị cáo thu lợi được 30.000.000đồng.

Từ giữa tháng 03/2022 ông Đỗ Văn T ghi bán số đề và nộp lại cho bị cáo T để hưởng tiền huê hồng. Ngày 04/7/2022, ông Tư sử dụng điện thoại di động Oppo A5S cùng sim số 0932851790 và sim số 0398323979 ghi bán số đề cho 08 đến 09 người rồi nộp lại cho bị cáo với số tiền đài Đồng Tháp 1.841.000đồng, trúng 2.400.000đồng; đài Cà Mau 500.250đồng; đài thành phố Hồ Chí Minh 900.250 đồng (trong đó tiền trúng 400.000đồng); Tư ghi bán cho Nguyễn Thị H 225.000đồng, Trần Thị T 110.000đồng, Phan Hữu T 200.000đồng, Nguyễn Văn T 1.350.000đồng, Nguyễn Văn S 150.000đồng, Huỳnh Thị D 160.000đồng, Trần Thị S 136.000đồng.

Trong thời gian ghi bán số đề Đỗ Văn T thu lợi được 12.000.000đồng.

Trần Nam K giao nộp 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A02S, Nguyễn Thị H nộp 225.000đồng, Phan Hữu T nộp 200.000đồng, Đỗ Văn T giao nộp 110.000đồng, Nguyễn Thanh Tòng (anh của Nguyễn Thị T) giao nộp 01 thẻ ATM mang tên Nguyễn Thị T.

Hành vi mua, bán số đề của Đỗ Văn T, Phan Hữu T, Nguyễn Văn S, Trần Thị T, Trần Thị S, Huỳnh Thị D chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an huyện Cờ Đỏ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Đối với Nguyễn Văn T có hành vi mua số đề, Nguyễn Thị Hoài M và đối tượng tên B có hành vi nhận số phơi đề bị cáo giao nộp, đối tượng tên N, Ngọc A, T, N, P, Hồng E và Quách Thị P có hành vi nộp phơi đề cho bị cáo nhưng chưa tiếp xúc làm việc được nên chưa có cơ sở xử lý. Đối với Mai Thị Huệ C không thừa nhận nộp phơi đề cho Nguyễn Thị T nên chưa có cơ sở xử lý đối với Chi.

Tại bản Cáo trạng số 29/CT - VKSCĐ ngày 24 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo Nguyễn Thị T về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự. Truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ Luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Về trách nhiệm hình sự: Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố sau khi phân tích chứng cứ, luận tội đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo T từ 01 năm đến 02 năm tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo về tội “Đánh bạc”.

Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 322, khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo T phải nộp 30.000.000đồng đến 40.000.000đồng sung công quỹ Nhà nước. Miễn hình phạt bổ sung cho Bị cáo H.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại Samsung Galaxy A20S thu giữ của bị cáo T, 01 điện thoại di động Oppo A5S của Đỗ Văn T và số tiền 35.855.000đồng. Trong đó, của bị cáo T số tiền 33.000.000đồng; của ông Tư số tiền 2.430.000đồng; Bị cáo H giao nộp 225.000đồng; Phan Hữu T giao nộp 200.000đồng.

Buộc ông Đỗ Văn T phải nộp 12.000.000đồng tiền thu lợi bất chính Sung quỹ Nhà nước.

Trả lại cho bị cáo T một thẻ ATM và số tiền 30.050.000đồng nhưng cần tiếp tục tạm giữ số tiền trên để đảm bảo thi hành án. Trả lại cho ông Đỗ Văn T 01 điện thoại di động Nokia C1 màu xanh, 01 điện thoại di động Samsung Galaxy J3, 01 xe mô tô 65K1 - 119.55. Trả lại cho Trần Nam K 01 điện thoại Samsung Galaxy A02S.

Tịch thu tiêu hủy 02 con dao cán bằng gỗ dài 13,5 cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 30 cm, 01 con dao cán bằng gỗ dài 13,5 cm, lưỡi bầu, sắc nhọn làm bằng kim loại màu trắng dài 32 cm, 01 máy tính Casio, 6 viết mực màu xanh và 02 sim điện thoại.

Lưu kèm hồ sơ vụ án 08 tờ giấy có nội dung ghi số đề.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo T ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo H ăn năn hối cải về hành vi phạm tội cuẩ mình, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là người cao tuổi, phạm tội lần đầu xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Qua đối chiếu quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nhận thấy các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về trách nhiệm hình sự: Bị cáo thống nhất với nội dung cáo trạng truy tố và khai nhận:

Bị cáo T khai nhận bắt đầu ghi bán số đề và nhận phơi đề từ tháng 3/2022 nộp cho thầu để hưởng tiền huê hồng. Cách thức giao nhận phơi đề, bị cáo nhận trực tiếp hoặc nhận qua ứng dụng Zalo. Hình thức ăn thua đối với lô A, B bao lô 02 con số mua 1.000đồng trúng 80.000đồng, bao lô 03 con số và số đá 1.000đồng trúng 500.000đồng, các tay em nộp phơi cho bị cáo hưởng 15% trên tổng số tiền bán lô A, B và hưởng 500đồng đối với bao lô. Bị cáo nộp cho phơi cho thầu thì hưởng huê hồng 2% trên tổng số tiền lô A, B và hưởng 100đồng đối với bao lô. Ngày 04/7/2022, bị cáo nhận phơi đề của 10 người qua nhiều Nick Zalo khác nhau với tổng số tiền đài Đồng Tháp là 84.890.500đồng, đài Cà Mau 23.085.750đồng và đài TP. HCM là 28.205.750đồng và một số phơi đề khác không xác định được ngày tháng cụ thể số tiền cao nhất trên 20.000.000đồng thấp nhất trên 6.000.000đồng. Trong quá trình ghi bán số đề và nhận phơi đề bị cáo thu lợi bất chính được 30.000.000đồng.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với những chứng cứ thu thập có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa. Xét thấy, bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, chỉ vì ham lợi bất chính mà thực hiện hành vi ghi bán và nhận phơi đề, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ. Bị cáo ghi bán số đề và nhận phơi đề cho 10 người, số tiền ghi bán số đề trên 20.000.000đồng. Hành vi phạm tội bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo H khai nhận: Ngày 04/7/2022 bị cáo có mua số đề do ông Đỗ Văn T bán với số tiền 225.000đồng, hình thức bao lô số 64, số tiền 5.000đồng cho các đài của xổ số Miền Nam. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với những chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Xét thấy, bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, chỉ vì ham lợi bất chính mà thực hiện hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền, số tiền mà bị cáo dùng để đánh bạc dưới 5.000.000đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, chưa chấp hành xong thời hạn được xem là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính mà lại tiếp tục đánh bạc, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tình tiết giảm nhẹ các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo H phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo là người cao tuổi, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo T đã tự nguyện nộp một phần tiền thu lợi bất chính. Do đó, bị cáo T được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Bị cáo H được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hình phạt:

Đối với bị cáo T: Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm đến 02 năm tù. Xét thấy, bị cáo T ghi bán và nhận phơi đề của nhiều người, số tiền nhận phơi đề và hưởng lợi bất chính lớn. Hiện nay tệ nạn cờ bạc nhất là số đề diễn ra trên địa bàn nhiều, ảnh hưởng lớn đến tình hình an ninh chính ở địa P. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội bị cáo thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung là có căn cứ.

Đối với bị cáo H: Bị cáo phạm tội quy định tại khoản 1 Điều 321 có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm là tội ít nghiêm trọng. Bị cáo là cao tuổi, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy, không cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Do đó, căn cứ Điều 65 Bộ luật Hình sự và Điều 1 Nghị Quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022, sửa đổi bổ sung Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cho bị cáo được hưởng án treo theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 322, khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự cần buộc bị cáo T phải nộp một khoản tiền để sung công quỹ Nhà Nước. Đối với bị cáo H là người cao tuổi, có hoàn cảnh khó khăn. Do đó miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 điện thoại thu giữ của bị cáo T; 01 điện thoại thu giữ Đỗ Văn T và số tiền 35.855.000đồng là tiền thu lợi bất chính và tiền mua số đề bị cáo và các đối tượng đánh bạc giao nộp có giá trị sử dụng nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Đối với 06 cây viết mực, 01 máy tính casino, 02 sim điện thoại của bị cáo T, 02 sim điện thoại của ông Đỗ Văn T để ghi bán số đề nên tịch thu tiêu hủy. Riêng 02 cây dao thu giữ tại nhà bị cáo T là hung khí nguy hiểm tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 30.050.000đồng thu giữ của bị cáo T không có liên quan đến việc đánh bạc nên trả lại cho bị cáo. Tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ số tiền trên để đảm bảo thi hành án.

Đối với số tiền 12.000.000đồng thu lợi bất chính trong thời gian ghi bán số đề cần buộc ông Đỗ Văn T phải nộp sung quỹ Nhà nước.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo T phải nộp 200.000đồng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23; Bị cáo H là người trên 60 tuổi nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Đối với Đỗ Văn T, Phan Hữu T, Nguyễn Văn S, Trần Thị T, Trần Thị S, Huỳnh Thị D có hành vi mua số đề chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an huyện Cờ Đỏ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp. Đối với Nguyễn Văn T có hành vi mua số đề, Nguyễn Thị Hoài M và đối tượng tên B có hành vi nhận số phơi đề bị cáo giao nộp, đối tượng tên N, Ngọc A, T, N, P, Hồng E và Quách Thị P có hành vi nộp phơi đề cho bị cáo nhưng chưa tiếp xúc làm việc được nên chưa có cơ sở xử lý. Đối với Mai Thị Huệ C không thừa nhận nộp phơi đề cho Nguyễn Thị T nên chưa có cơ sở xử lý đối với Chi. Kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Cờ Đỏ tiếp tục xác minh làm rõ có căn cứ xử lý sau.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự:

1.1 Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Tổ chức đánh bạc”

Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/7/2022 đến ngày 13/10/2022.

1.2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Đánh bạc”

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s, o khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 1 Nghị Quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022, sửa đổi, bổ sung Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 06 (sáu) tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 23/11/2022.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đông Hiệp, huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp trong quá trình chấp hành án người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 322; khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Buộc bị cáo Nguyễn Thị T phải nộp 30.000.000đồng Sung công quỹ Nhà nước. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Nguyễn Thị H.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại Samsung Galaxy A20S thu giữ của bị cáo T, 01 điện thoại di động Oppo A5S của Đỗ Văn T và số tiền 35.855.000đồng. Trong đó, của bị cáo T số tiền là 33.000.000đồng (3.000.000đồng tiền bán số đề và 30.000.000đồng tiền thu lợi bất chính bị cáo giao nộp theo biên lai thu số 0009078 ngày 08/11/2022 và biên lai thu số 0009084 ngày 21/11/2022); của ông Tư số tiền 2.430.000đồng; của Bị cáo H nộp 225.000đồng; Phan Hữu T giao nộp 200.000đồng.

Buộc ông Đỗ Văn T phải nộp 12.000.000đồng tiền thu lợi bất chính sung quỷ Nhà nước.

Trả lại cho bị cáo T một thẻ ATM và số tiền 30.050.000đồng nhưng cần tiếp tục tạm giữ số tiền để đảm bảo thi hành án. Trả lại cho ông Đỗ Văn T 01 điện thoại di động Nokia C1 màu xanh, 01 điện thoại di động Samsung Galaxy J3, 01 xe mô tô 65K1 - 119.55. Trả lại cho Trần Nam K 01 điện thoại Samsung Galaxy A02S.

Tịch thu tiêu hủy 02 con dao cán bằng gỗ dài 13,5 cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 30 cm, 01 con dao cán bằng gỗ dài 13,5 cm, lưỡi bầu, sắc nhọn làm bằng kim loại màu trắng dài 32 cm, 01 máy tính Casio, 6 viết mực màu xanh và 02 sim điện thoại.

Lưu kèm hồ sơ vụ án 08 tờ giấy có nội dung ghi số đề.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 23/QĐ-VKSCĐ ngày 24 tháng 10 năm 2022 và bản thống kê vật chứng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ)

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016

Bị cáo Nguyễn Thị T phải nộp 200.000đồng.

Bị cáo Nguyễn Thị H được miễn án phí.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt, được quyền làm kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt, được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân nơi cư trú hoặc được tống đạt hợp lệ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ