vanban.org

Bản án 29/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Gia Lai Tuyên án 30/05/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/05/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "ĐỖ ĐÌNH Đ - phạm tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc (điều 311 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 311 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA L
____________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2022/HS-PT
Ngày 30-5-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

-------------------------------

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA L

-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Bình

Các Thẩm phán: Ông Đỗ Văn Hiên

Ông Lưu Anh Tuấn

-Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Mỹ Vương – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh GIA L.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh GIA L tham gia phiên tòa: Ông Cáp Văn Phương- Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh GIA L, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 34/2022/TLPT-HS ngày 27 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo Đỗ Đình Đ do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 23/2022/HSST ngày 18 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố P , tỉnh GIA L.

Bị cáo có kháng cáo:

ĐỖ ĐÌNH Đ (tên gọi khác: T), sinh năm 1968 tại GIA L; nơi cư trú: Tổ 06, phường Hội TH , thành phố P , tỉnh GIA L; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Gi (đã chết) và bà Nguyễn Thị H (đã chết); bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Ng , sinh năm 1966 và 04 người con, lớn nhất sinh năm 1987 và nhỏ nhất sinh năm 1997;

Nhân thân:

- Ngày 08/7/1987, Tòa án nhân dân tỉnh GIA L – Kon T tuyên phạt 04 năm tù về tội “Cướp tài sản của công dân” theo khoản 2 Điều 152 Bộ luật Hình sự năm 1985 tại Bản án số 28/HSST. Chấp hành án tại Trại cải tạo T -15 (nay là Trại giam Gia Trung); ngày 10/7/1990 chấp hành xong hình phạt tù; ngày 30/7/2019 chấp hành xong các nghĩa vụ khác.

- Ngày 17/3/1992, Tòa án nhân dân tỉnh GIA L tuyên phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” theo khoản 2 Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 1985 tại Bản án số 16/HSST. Chấp hành án tại Trại cải tạo T -15 (nay là Trại giam Gia Trung); ngày 19/8/1994 chấp hành xong hình phạt tù; ngày 26/10/1992 chấp hành xong án phí.

- Ngày 21/3/2008, Tòa án nhân dân thành phố P , tỉnh GIA L tuyên phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 tại Bản án số 25/2008/HSST

- Ngày 04/7/2008, Tòa án nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên tuyên phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 2 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 tại Bản án số 15/2008/HSST.

- Ngày 25/ 9/2008, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên tuyên phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tổng hợp hình phạt 18 tháng tù theo Bản án số 25/2008/HSST của Tòa án nhân dân thành phố P , tỉnh GIA L, chấp hành chung hình phạt là 05 năm tù tại bản án số 106/2008/HSPT. Chấp hành án tại Trại giam Gia Trung; ngày 14/01/2012 chấp hành xong hình phạt tù; ngày 12/7/2011 và ngày 14/7/2011 chấp hành xong các nghĩa vụ khác. Riêng ngày 18/9/2013 chấp hành xong án phí của Bản án số 25/2008/HSST.

Tiền án, tiền sự: Không.

Ngày 11/8/2021 thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất độc. Ngày 14/10/2021 bị khởi tố và áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Hiện bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1.Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội

dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 07/8/2021, khi đang lưu thông trên đoạn đường Lý Nam Đ, thuộc địa phận phường Trà B, thành phố P , Đỗ Đình Đ nhìn thấy 02 thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Jupiter (không rõ biển số) ném 01 cục chất màu nâu xuống mặt đường tại trước khu vực Bến xe tải Đức Long GIA L. Do biết là 02 thanh niên này vừa ném cục bả để bẫy chó nên Đạo nhặt cục bả chó trên bỏ vào trong túi áo khoác đang mặc, nhằm mục đích sau này dùng để bẫy, bắt trộm chó. Khoảng 07 giờ ngày 11 tháng 08 năm 2021, Đạo điều khiển xe mô tô biển số 81B2 – 477.10, đem theo cục bả chó đã nhặt được vào ngày 07 tháng 8 năm 2021, cất giấu trong túi áo khoác; 01 giỏ xách và 01 cuộn băng keo đi đến đường Nguyễn Đ, phường Ia K, thành phố P , nhằm mục đích tìm chó của người dân để bắt trộm. Khoảng 07 giờ 15 phút cùng ngày, khi Đạo vừa đi đến trước số nhà 109 đường Nguyễn Đ, thuộc tổ 08, phường Ia Kr, thành phố P thì bị Công an phường Ia Kring, thành phố P kiểm tra hành chính, phát hiện và thu giữ trong túi áo khoác của Đạo đang mặc: 01 cục chất màu nâu không rõ hình dạng, bên ngoài được quấn chỉ màu trắng, kích thước 4,9cm x 3,5cm, phần đầu được quấn dây thun màu vàng dài 3,1cm (được niêm phong theo quy định); 01 giỏ xách màu vàng-xanh-đỏ có kích (50x47x23)cm; 01 cuộn băng keo đen, đường kính 5,3cm và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, biển số 81B2-477.10. Cùng ngày, Công an phường Ia Kring chuyển vụ việc trên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P để điều tra theo thẩm quyền.

Qua trưng cầu giám định, tại bản Kết luận giám định số 1078/C09C-Đ2 ngày 24 tháng 9 năm 2021 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, kết luận: “01 cục chất màu nâu đựng trong túi niêm phong bằng giấy, mã số PS3 2035104 gửi giám định tìm thấy Natri xyanua (NaCN). Hiện nay, phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng chưa có mẫu chuẩn nên không xác định được hàm lượng Natri xyanua (NaCN) có trong mẫu gửi giám định. Natri xyanua rất độc với người, gia súc và gia cầm. Natri xyanua (NaCN) thuộc danh mục hóa chất hạn chế sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp (số thứ tự 73, Phụ lục II) ban hành kèm theo Nghị định số 113/2017/NĐ-CP ngày 09/10/2017 của Chính phủ về “Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Luật Hóa chất””.

2. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:

Tại bản án hình sơ thẩm số 23/2022/HSST ngày 18 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố P , tỉnh GIA L đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Đỗ Đình Đ phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất độc”

Áp dụng khoản 1 Điều 311, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Đỗ Đình Đ 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo của bị cáo theo luật định.

3. Kháng cáo của các bị cáo

Ngày 28/3/2022, bị cáo Đỗ Đình Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

4. Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đỗ Đình Đ giữ nguyên nội dung kháng cáo

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của người làm chứng trong quá trình điều tra phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án có đủ căn cứ để xác định:

Bị cáo có hành vi cất giữ cục chất màu nâu và nhận thức được đó là bả chó có chứa chất độc. Ngày 11/8/2021, bị cáo mang theo cục chất màu nâu đi tìm chó để bắt trộm trên đường Nguyễn Đường, tổ 08, phường Ia Kring, thành phố P , tỉnh GIA L thì bị Công an phường Ia Kring, thành phố P kiểm tra, phát hiện.

Qua trưng cầu giám định xác định cục chất màu nâu mà bị cáo cất giữ là chất độc Natri xyanua rất độc với người, gia súc và gia cầm. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố P xét xử bị cáo Đỗ Đình Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất độc” theo quy định tại khoản 1 Điều 311 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội.

Về kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo: Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, sau khi chấp hành xong hình phạt tù của nhiều bản án nhưng bị cáo vẫn không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất độc để sử dụng là hành vi nguy hiểm cho xã hội, vi phạm quy định của nhà nước trong quản lý chất độc nhưng bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất mức độ hành vi phạm tội; nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tuyên xử bị cáo mức án 18 tháng tù là phù hợp.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không đưa ra tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015,

1. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 23/2022/HSST ngày 18/3/2022 của Tòa án nhân dân thành phố P , tỉnh GIA L về phần hình phạt.

Áp dụng khoản 1 Điều 311, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Đỗ Đình Đ 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất độc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

2. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Đỗ Đình Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ