- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đức H - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Đức H phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 190 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC TỈNH NGHỆ AN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2021/HS-ST Ngày 31 - 3 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Huyền
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Quang Hòa
Ông Lê Khắc Thiện.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dung - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Doãn Thị Ánh Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2021/TLST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2021/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:
Trần Đức H sinh ngày 08 tháng 7 năm 2000 tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An; tên gọi khác: không; nơi cư trú: xóm Y, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc L và bà Nguyễn Thị T; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01 tháng 12 năm 2020 đến ngày 28 tháng 02 năm 2021 được thay đổi biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 30 tháng 11 năm 2020, Trần Đức H đang làm việc tại số 78A, đường N, thành phố V, tỉnh Nghệ An thì có một nam thanh niên tên T (H mới quen, không biết họ tên và địa chỉ cụ thể) dùng số điện thoại 0358.385.xxx gọi vào số điện thoại 0569.132.xxx của H để hỏi mua 10 cối pháo loại 36 quả. H nhận lời và nói để tìm, khi có sẽ báo sau. Sau đó, qua tìm hiểu trên mạng xã hội Facebook, H biết được tài khoản Facebook "HB" có bán pháo nên đã liên lạc hỏi mua pháo và được tài khoản Facebook đó cho số điện thoại 0989.379.xxx để liên lạc. H đã gọi điện theo số điện thoại trên thì có một người đàn ông xưng tên là B trao đổi, báo giá 13.000.000 đồng/10 cối pháo loại 36 quả. H đồng ý và hẹn ngày mai sẽ tiến hành giao dịch tại xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. H liên lạc lại với T báo giá 15.000.000 đồng/10 cối pháo loại 36 quả, T đồng ý. Đến khoảng 12 giờ ngày 01 tháng 12 năm 2020, T đi xe taxi đến nơi H làm việc và đón H đi lấy pháo. H liên lạc với B và được B huớng dẫn đi đến đường liên xóm, cạnh bờ tường rào Công ty may P thuộc xóm 4, xã N, huyện N có một bao tải màu cam trong đó có 10 cối pháo, còn tiền sẽ thanh toán sau. H và T đi xe taxi đến địa điểm nêu trên, khi đang lấy 01 bì tải màu cam để bê lên xe taxi thì bị Tổ công tác Công an thành phố Vinh phát hiện, bắt quả tang, còn nam thanh niên tên T lên xe taxi bỏ chạy. Vật chứng thu giữ gồm 10 hộp pháo có 36 quả pháo, tổng trọng lượng là 14 kg.
Tại Kết luận giám định số 283/KL-PC09(Đ2-CN) ngày 07 tháng 12 năm 2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận:“Mẫu vật gửi tới giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (Có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ)”.
Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Bản Cáo trạng số 28/CT-VKS-HS ngày 08 tháng 3 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Trần Đức H về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An giữ quyền công tố và tranh luận: giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Đức H về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s, v khoản 1Điều 51của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Trần Đức H từ 15 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng ; Về vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 5 màu đen, đã qua sử dụng bên trong có gắn thẻ sim 0569.132.651; Giao cho Công an huyện Nghi Lộc xử lý theo quy định của pháp luật đối với 09 hộp pháo có tổng khối lượng 12,06 kg.
Bị cáo nhất trí với ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An và không tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được việc làm của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận. Vì vậy, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Vinh, Công an huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh, khung hình phạt: lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở để khẳng định: khoảng 12 giờ 30 phút ngày 01 tháng 12 năm 2020, khi Trần Đức H đang có hành vi lấy 10 hộp pháo với tổng khối lượng là 14 kg tại khu vực đường liên xóm, cạnh bờ tường rào Công ty may P thuộc xóm 4, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An để bán cho một người tên T thì bị phát hiện, bắt quả tang. Tại Kết luận giám định số 283/KL-PC09(Đ2-CN) ngày 07 tháng 12 năm 2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Nghệ An kết luận:“Mẫu vật gửi tới giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (Có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ)”. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự. Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội.
Về hình phạt: Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý nhà nước đối với các loại hàng hóa cấm kinh doanh, gây mất trật tự an toàn xã hội. Vì vậy cần xét xử nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Nhưng xét, bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đó là: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (điểm s); bị cáo đã có thành tích xuất sắc trong công tác phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn được tặng Giấy khen (điểm v ) nên cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần khi quyết định hình phạt để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cần áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo là đủ nghiêm.
Về hình phạt bổ sung: tại khoản 4 Điều 190 của Bộ luật hình sự quy định: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng,...". Xét thấy, bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, chưa có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5 màu đen, đã qua sử dụng bên trong có gắn thẻ sim 0569.132.651; đây là phương tiện bị cáo đã sử dụng để liên lạc mua bán pháo nên cần tịch thu, sung vào Ngân sách Nhà nước.
- Đối với 10 hộp pháo với tổng khối lượng là 14,0 kg bị thu giữ khi bắt quả tang, cơ quan điều tra đã lấy 01 hộp pháo có khối lượng 1,4 kg để giám định; còn lại 09 hộp pháo có tổng khối lượng 12,06 kg, cần giao cho Công an huyện Nghi Lộc xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí: bị cáo Trần Đức H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Đối với nam thanh niên tên T là người đã dùng số thuê bao 0358.385.928 chủ động liên hệ, đi cùng với bị cáo để mua, nhận pháo; Cơ quan điều tra không xác định được nhân thân, lý lịch của T. Quá trình điều tra xác định số thuê bao trên là của bà Nguyễn Thị T (sinh năm 1961, trú tại khối V, phường V, thành phố V). Năm 2019, bà T đã bị mất máy điện thoại và thẻ sim số thuê bao đó nên không sử dụng nữa. Vì vậy, không có căn cứ xử lý đối với người đàn ông tên T và bà T.
- Đối với người đàn ông tên B sử dụng số điện thoại 0989.379.xxx để bán pháo cho bị cáo, quá trình điều tra xác định số thuê bao này là của Hồ Trọng B (sinh năm 1992, trú tại xóm 11, xã N, huyện N). Số thuê bao này trước đây của ông Hồ Trọng H (bố của B - hiện đã chết), sau đó B đã sử dụng và có dùng tài khoản Facebook là "HB". Trước ngày 30 tháng 11 năm 2020 khoảng 01 tháng, B đã bị mất máy điện thoại cùng với thẻ sim có số thuê bao trên. Do B không nhớ mật khẩu nên đã lập tài khoản Facebook mới tên là "TB". Kết quả đối chất giữa bị cáo và B không có căn cứ xác định B là người bán pháo cho bị cáo nên không có căn cứ xử lý B.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s,v khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Trần Đức H phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Xử phạt: bị cáo Trần Đức H 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã N trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Giao cho Công an huyện Nghi Lộc xử lý 09 hộp pháo có tổng khối lượng 12,06 kg theo quy định của pháp luật đang được niêm phong (Hiện đang tạm giữ tại kho tang vật của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An).
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5 màu đen, đã qua sử dụng bên trong có gắn thẻ sim 0569.132.xxx(Hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11 tháng 3 năm 2021).
Về án phí: Bị cáo Trần Đức H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Nghi Lộc; - Công an huyện Nghi Lộc; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Sở tư pháp; - Chi cục hành án dân sự huyện Nghi Lộc; - Lưu VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Huyền |