vanban.org

Bản án 29/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 25/01/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn H phạm tội trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn H 06 (sáu) tháng tù về tội trộm cắp tài sản; thời hạn tù t nh từ ngày 12/10/2018. Án phí hình sự sơ thẩm: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huynh Van H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn H phạm tội trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự Xử phạt; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 15 Bộ luật Hình sự Xử phạt
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 29/2019/HS-ST
Ngày: 25-01-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ;

2. Bà Trần Thị Ngọc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, là Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2019/TLST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2019 theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 21/2019/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 01 năm 2019, đối với bị cáo:

Huỳnh Văn H, sinh năm 1996 tại Thành phố H Ch Minh; nơi cƣ trú: Không có nơi cƣ trú nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Huỳnh Văn H, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1968 bị cáo có 01 chị ruột sinh năm 1988; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án sơ thẩm số 155/2012/HSST ngày 14/9/2012 của Tòa án nhân dân Quận , Thành phố H xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù về tội cƣớp tài sản, chấp hành xong ngày 09/10/2013; bản án số 213/2014/HSST ngày 19/6/2014 của Tòa án nhân dân quận T, Thành phố H xử phạt bị cáo 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản; Bản án số 694/2014/HSPT ngày 19/9/2014 của Tòa án nhân dân T y án sơ thẩm xử phạt bị cáo 01 năm tù, chấp hành xong hình phạt ngày 27/11/2013, đóng án ph ngày 02/4/2018; Quyết định số 49/QĐ-TA ngày 25/02/2015 của Tòa án nhân dân Quận , Thành phố H về áp dụng biện pháp xử lý hành ch nh đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng, chấp hành xong ngày 20/01/2017; bị bắt tạm giam ngày 12/10/2018, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1. Bà Huỳnh Thị Đ, sinh năm 1971; thƣờng trú: Tổ 10, V, phƣờng N, thành phố C, tỉnh An Giang; chỗ ở: Phòng trọ số 6B, số 13/10, khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

2. Anh Lê Văn T, sinh năm 1995; thƣờng trú: Tổ 10, V, phƣờng N, thành phố C, tỉnh An Giang; chỗ ở: Phòng trọ số 6B, số 13/10, khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

3. Ông Lê Văn T, sinh năm 1968; thƣờng trú: Tổ 10, V, phƣờng N, thành phố C, tỉnh An Giang; chỗ ở: Phòng trọ số 6B, số 13/10, khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người chứng kiến:

1. Chị Lê Yến N, sinh năm 1997; thƣờng trú: Khóm V, phƣờng N, thành phố C, tỉnh An Giang. vắng mặt.

2. Anh Nguyễn Phúc H, sinh năm 1993; thƣờng trú: Ấp V, phƣờng N, thành phố C, tỉnh An Giang; chỗ ở: Phòng trọ số 6B, số 13/10, khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.

3. Anh Nguyễn Minh V, snh năm 1990; thƣờng trú: Ấp T, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An; chỗ ở: Phòng trọ số 7, số 13/10, khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 12/10/2018, Huỳnh Văn H đón xe Grap đi từ khu vực Quận , Thành phố H Ch Minh đến khu vực Làng đại học quốc gia Thành phố H Ch Minh thuộc phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Đến khoảng 03 giờ ngày 12/10/2018, Huỳnh Văn H thấy phòng trọ số 6B số nhà 15/10 khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D đang mở cửa phòng, có anh Lê Văn T và bà Huỳnh Thị Đ đang nằm ngủ trên nền gạch trong phòng trọ, ông Lê Văn T đang nằm ngủ ngoài hành lang trƣớc phòng trọ. Huỳnh Văn H thấy 01 điện thoại di động hiệu oppo A3S màu đen của bà Huỳnh Thị Đ để sát cầu thang lên gác trọ và 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 màu đen xanh của anh Lê Văn T để sát tƣờng bên phải phòng trọ. Huỳnh Văn H tiếp cận và cầm 02 điện thoại trên tay định trốn thoát thì nghe tiếng động. Huỳnh Văn H sợ bị phát hiện và đi vào phòng vệ sinh trốn. Khoảng 05 phút sau, anh Lê Văn T đi vào phòng vệ sinh bật đèn lên thì thấy Huỳnh Văn H liền truy hô. Huỳnh Văn H sợ bị bắt giữ liền chạy ra. Lúc này, trên tay Huỳnh Văn H đang cầm 02 điện thoại di động vừa chiếm đoạt đƣợc, tay phải Hậu chụp con dao dài 34cm bằng kim loại đang để ở góc bếp với ý định để hù dọa tẩu thoát. Khi Huỳnh Văn H cầm dao lên thì anh T ôm và khống chế H. Cùng lúc, ông T chạy vào khống chế Hậu. Huỳnh Văn H vung dao trúng vào trán và cổ của ông T gây thƣơng t ch. Huỳnh Văn H bị bắt ngƣời có hành vi phạm tội quả tang.

Theo kết luận định giá tài sản số 298 ngày 21/10/2018 của Hội đ ng định giá thị xã Dĩ An, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 Prime, màu đen-xanh, trị giá 2.500.000 đ ng, 01 điện thoại di động hiệu Oppo A3S, màu đen trị giá 2.500.000 đ ng. Tổng trị giá 5.000.000 đ ng.

Theo Kết luận giám định pháp y về thƣơng t ch số 0834/TgT/2018 ngày 23/10/2018 của Trung tâm pháp y – Sở y tế Đ ng Nai kết luận thƣơng tật của ông Lê Văn T: Dấu hiệu ch nh qua giám định: Vết thƣơng trán phải nằm ngoài chân tóc k ch thƣớc 01x0,2cm, xấu về thẩm mỹ (áp dụng chƣơng 9 Điều II, mục I). Tỷ lệ: 06%; Vết thƣơng góc hàm trái k ch thƣớc 06x0.2cm (áp dụng chƣơng 9 Điều I, mục 1). Tỷ lệ 03%; Tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể (áp dụng phƣơng pháp cộng lùi) do thƣơng t ch gây nên tại thời điểm giám định là: 09%. Kết luận khác: vật gây thƣơng t ch: Vật sắc.

Vật chứng thu giữ g m: 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 Prime màu xanh đen, 01 điện thoại di động hiệu oppo A3S màu đen; 01 con dao dài 34cm bằng kim loại.

Tại bản cáo trạng số 34/CT - VKS ngày 03 tháng 01 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Huỳnh Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173, Điều 15 Bộ luật Hình sự 2015, đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2017 và tội Cố ý gây thƣơng t ch theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An rút một phần quyết định truy tố đối với bị cáo về tội cố ý gây thƣơng t ch theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự; giữ nguyên quyết định truy tố về tội trộm cắp tài sản và đề nghị Hội đ ng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 15, điểm i, h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Văn H mức hình phạt từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Văn T, Huỳnh Thị Đ đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác. Về hành vi gây thƣơng t ch cho bị hại ông Lê Văn T, gia đình bị cáo đã thỏa thuận b i thƣờng xong nên trách nhiệm dân sự không đặt ra.

Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Văn H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nhƣ trong bản cáo trạng đã nêu và xin Hội đ ng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, ngƣời làm chứng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Vào khoảng 03 giờ, ngày 12/10/2018 tại phòng trọ số 6B số nhà 15/10 khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng, bị cáo Huỳnh Văn H chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Oppo A3S màu đen của bà Huỳnh Thị Đ và 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 Prime màu đen xanh của anh Lê Văn T. Sau đó, trốn vào nhà vệ sinh thì bị anh T và ông T vây bắt. Huỳnh Văn H lấy con dao dài 34cm bằng kim loại đang để trong góc bếp hù dọa thì bị anh T và ông T khống chế. Huỳnh Văn H vung dao trúng vào trán và cổ của ông T gây thƣơng t ch. Hai điện thoại di động rơi trong phòng số 06 và Huỳnh Văn H bị bắt giữ ngƣời có hành vi phạm tội quả tang.

Tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

“ 1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm:

…”.

Hành vi của bị cáo lén lúc chiếm đoạt tài sản là điện thoại di động hiệu Oppo A3S màu đen của bà Huỳnh Thị Đ, trị giá 2.500.000đ và điện thoại di động hiệu Samsung J7 Prime màu đen xanh của anh Lê Văn T, trị giá 2.500.000đ, tổng trị giá 5.000.000 đ ng đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số 34/CT - VKS ngày 03 tháng 01 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo Huỳnh Văn H là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét t nh chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy là t nghiêm trọng nhƣng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản và sức khỏe của bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Bị cáo là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật, nhƣng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tƣơng xứng với t nh chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; tài sản chiếm đoạt đã thu h i trả lại cho ngƣời bị hại; phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp t nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, h, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo là ngƣời sử dụng ma túy, không có chỗ ở ổn định, không có việc làm và có nhân thân xấu. Bản án sơ thẩm số 155/2012/HSST ngày 14/9/2012 của Tòa án nhân dân Quận , Thành phố H xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù về tội về tội cƣớp tài sản, chấp hành xong ngày 09/10/2013; bản án số 213/2014/HSST ngày 19/6/2014 của Tòa án nhân dân quận T, Thành phố H xử phạt bị cáo 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản; Bản án số 694/2014/HSPT ngày 19/9/2014 của Tòa án nhấn dân Thành phố H y án sơ thẩm xử phạt bị cáo 01 năm tù, chấp hành xong hình phạt ngày 27/11/2013, đóng án ph ngày 02/4/2018; Quyết định số 49/QĐ-TA ngày 25/02/2015 của Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố H về áp dụng biện pháp xử lý hành ch nh đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng, chấp hành xong ngày 20/01/2017.

Hành vi của bị cáo dùng dao dài 34cm bằng kim loại gây thƣơng t ch cho bị hại ông Lê Văn T với tỷ lệ thƣơng tật là 09%. Ông Lê Văn T làm đơn đề nghị khởi tố vụ án. Tuy nhiên, ngày 24/01/2019, ông Lê Văn T làm đơn xin rút yêu cầu khởi tố, đề nghị Tòa án đình chỉ vụ án không tiến hành xét xử bị cáo về hành vi cố ý gây thƣơng tích. Ngày 24/01/2019, Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An đã đình chỉ vụ án đối với bị cáo Huỳnh Văn H về tội cố ý gây thƣơng t ch.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt đã đƣợc thu h i trả lại cho bị hại; anh Lê Văn T và bà Huỳnh Thị Đ không có yêu cầu gì khác nên không xem xét giải quyết. Đối vời hành vi gây thƣơng t ch cho ông Lê Văn T, gia đình bị cáo đã thỏa thuận b i thƣờng xong, ngƣời bị hại không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đ ng xét xử chấp nhận.

Về án ph : Bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm theo quy định 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn H phạm tội trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 15; điểm s, h, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn H 06 (sáu) tháng tù về tội trộm cắp tài sản; thời hạn tù t nh từ ngày 12/10/2018.

2. Án phí hình sự sơ thẩm:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.

Buộc bị cáo Huỳnh Văn H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đ ng.

3. Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ