vanban.org

Bản án 280/2017/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 22/12/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn D và Nguyễn Văn S phạm tội trộm cắp tài sản. Xử phạt: Nguyễn Văn D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D - Nguyễn Văn S - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 280/2017/HS-ST
Ngày: 22-12-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hồ Thanh Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hồ Tấn Tài – Giáo viên Trƣờng tiểu học Phan Chu Trinh;

Ông Nguyễn Đức Nhuận – Cán bộ nghỉ hƣu.

- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Thu Hiền, Thƣ ký Toà án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh An - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 285/2017/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2017 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 323/2017/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2017 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn D, sinh ngày 05/01/1999 tại tỉnh H; nơi cƣ trú: Ấp T, xã X, huyện L, tỉnh Đ; chỗ ở: Tổ 1, khu phố T1, phƣờng B, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1975 và bà Lƣơng Thị H1, sinh năm 1980; bị cáo chƣa có vợ, con; tiền sự: Không; tiền án: Không; bị bắt, tạm giam ngày 18/12/2017.

2. Nguyễn Văn S, sinh ngày 12/02/2000 tại tỉnh H (Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 03 tháng 23 ngày); nơi cƣ trú: Ấp T, xã X, huyện L, tỉnh Đ; chỗ ở: Tổ 1, khu phố T1, phƣờng B, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1975 và bà Lƣơng Thị H1, sinh năm 1980; bị cáo chƣa có vợ, con; tiền sự: Không; tiền án: Không; bị cáo đƣợc tại ngoại.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn S: Bà Lƣơng Thị H, sinh năm 1980; nơi cƣ trú: Ấp T, xã X, huyện L, tỉnh Đ; chỗ ở: Tổ 1, khu phố T1, phƣờng B, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng (đồng thời là ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan). Có mặt

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Sỹ: Ông Nguyễn Thành N, Luật sƣ của Văn phòng luật sƣ ASL thuộc Đoàn luật sƣ tỉnh Bình Dƣơng. Có mặt.

- Bị hại: Ông Huỳnh Văn T2, sinh năm 1994; trú tại: Ấp V, xã C, thị xã T3, tỉnh A. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Lƣơng Thị H1, sinh năm 1980; nơi cƣ trú: Ấp T, xã X, huyện L, tỉnh Đ; chỗ ở: Tổ 1, khu phố T1, phƣờng B, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Có mặt.

2. Ông Nguyễn Tiến D, sinh năm 1981; nơi cƣ trú: 386 Nguyễn Trọng Tuyển, phƣờng X, quận Y, Thành phố C; tạm trú: Số 13, đƣờng Nguyễn Ái Quốc, phƣờng T, thành phố B, tỉnh Đ. Vắng mặt.

3. Ông Lại Thanh M, sinh năm 1984; trú tại: Ấp B, xã B1, huyện B3, tỉnh Đ. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Bùi Trung T, sinh năm 1961; trú tại: 8/1/9 khu phố Đ, phƣờng B1, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Nguyễn Văn D là công nhân trong Công ty giày Thái Bình thuộc khu phố Đ1, phƣờng E, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. Do không có tiền tiêu xài nên D nảy sinh ý định trộm xe môtô của công nhân khác gửi trong nhà giữ xe của công ty bán lấy tiền tiêu xài. Tối ngày 04/6/2017 D rủ và bàn bạc với Nguyễn Văn S (là em ruột của D) sáng ngày 05/6/2017 vào Công ty giày Thái Bình trộm xe môtô thì S đồng ý. Đến 06 giờ 30 phút ngày 05/6/2017, D điều khiển xe môtô biển số 60AK-030.79 chở S đến khu vực chợ A, thị xã Thuận An mua 01 chiếc xe đạp cũ màu trắng bạc (giống kiểu dáng Martin) với giá 300.000 đồng đƣa cho S chạy, còn D điều khiển xe môtô biển số 60AK-030.79, cả hai cùng chạy đến Công ty giày Thái Bình. Khi đến nơi, cả hai vào gửi xe tại nhà giữ xe của Công ty, D đƣợc bảo vệ ghi và đƣa thẻ giữ xe môtô biển số 60AK-030.79 số 1165, S lấy số thẻ xe đạp số 144, cả hai đi ra ngoài cổng Công ty, D sử dụng giấy và băng keo trong để dán mất chữ “xe đạp” ghi trên thẻ giữ xe số 144 rồi đƣa cho S cầm. Sau đó, cả hai quay lại nhà để xe, S đi lại vị trí xe môtô 60AK-030.79 của D, S dùng tay xóa số mà bảo vệ đã ghi trƣớc rồi dùng phấn đã chuẩn bị trƣớc ghi lại số 144 và đẩy xe này ra ngoài. Còn D đi lên lầu nhà để xe của công nhân nhìn thấy chiếc xe Exciter 150 màu trắng đỏ, biển số 67H1-321.53 của Huỳnh Văn T2, D liền đi đến dùng tay xóa số 1288 đƣợc ghi trên xe rồi dùng phấn đã chuẩn bị trƣớc ghi lại số 1165 và đẩy xe này ra ngoài cổng. Cả hai đẩy xe đến cổng Công ty thì bị bảo vệ phát hiện báo Công an phƣờng E đến bắt giữ cùng tang vật.

Tang vật thu giữ gồm 01 chiếc xe môtô biển số 67H1-321.53, nhãn hiệu Yamaha Exciter 150 màu trắng đỏ kèm theo giấy bán xe ngày 03/6/2016; 01 chiếc xe môtô 60AK-030.79 nhãn hiệu Halim-Krea, màu đỏ đen; 03 thẻ giữ xe gồm số 1165, số 144 và số 1288 có đóng mộc màu xanh hai mặt có chữ ký TBS Group Đội bảo vệ; 01 chiếc xe đạp kiểu dáng Martin màu trắng bạc.

Theo Biên bản định giá tài sản và Kết luận định giá tài sản ngày 20/6/2017 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thị xã Thuận An xác định 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exciter 150 màu trắng đỏ biển số 67H1-321.53 trị giá 45.000.000 (bốn mƣơi lăm triệu) đồng.

Tại Cáo trạng số 02/QĐ-KSĐT ngày 28/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố Nguyễn Văn D và Nguyễn Văn S về tội Trộm cắp tài sản theo Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội cáo trạng đã nêu, đồng thời đánh giá tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 138, Điểm g, h, p Khoản 1 Điều 46, Khoản 2 Điều 46, Điểm n Khoản 1 Điều 48, Điều 53 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn D từ 15 tháng đến 20 tháng tù; áp dụng Khoản 1 Điều 138, Điểm g, h, p Khoản 1 Điều 46, Khoản 2 Điều 46, Điều 53, Điều 69, khoản 1 Điều 74 và Điều 60 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn S từ 09 tháng đến 12 tháng tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.

Và đề nghị tịch thu, tiêu hủy 03 (ba) thẻ giữ xe có đóng mộc màu xanh hai mặt có chữ ký TBS Group Đội bảo vệ gồm số 1165, số 144 và số 1288; tịch thu, sung quỹ Nhà nƣớc 01 (một) chiếc xe đạp kiểu dáng Martin màu trắng bạc.

Ngƣời bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn S thống nhất về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm g, h, p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An đề nghị đối với bị cáo S. Mặt khác, bị cáo S khi phạm tội chƣa đủ 18 tuổi, tham gia với vai trò thứ yếu, có nhân thân tốt, có nơi cƣ trú rõ ràng và đang đi học tại Trung tâm giáo dục thƣờng xuyên thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm Khoản 2 Điều 46, Điều 31 và Điều 73 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo cải tạo không giam giữ nhằm tạo điều kiện cho bị cáo học tập và trở thành công dân tốt có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về tố tụng: Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, ngƣời đại diện hợp pháp của bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Về nội dung: Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn D và Nguyễn Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nhƣ nội dung bản cáo trạng. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, ngƣời làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 05/6/2017, tại nhà xe của Công ty giày Thái Bình thuộc khu phố Đ1, phƣờng E, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, Nguyễn Văn D và Nguyễn Văn S cùng nhau bàn bạc, lén lút chiếm đoạt chiếc xe môtô nhãn hiện Yamaha Exciter 150 màu trắng đỏ, biển số 67H1-321.53 của Huỳnh Văn T2 thì bị phát hiện, bắt giữ.

Hành vi của các bị cáo lợi dụng sự sơ hở của nhân viên bảo vệ công ty giày Thái Bình, lén lút chiếm đoạt chiếc xe môtô biển số 67H1-321.53 trị giá 45.000.000 đồng đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản. Cáo trạng truy tố các bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý bởi lẽ về nhận thức, các bị cáo biết rõ hành vi chiếm đọat tài sản ngƣời khác trái phép là vi phạm pháp luật nhƣng vì động cơ tham lam, tƣ lợi nên các bị cáo vẫn thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo mức án nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Về đồng phạm: Vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo Nguyễn Văn D là ngƣời rủ rê, đồng thời là ngƣời thực hành tích cực; bị cáo Nguyễn Văn S là đồng phạm với vai trò là ngƣời giúp sức cho bị cáo D chiếm đoạt tài sản của bị hại nên mức hình phạt của bị cáo D cao hơn bị cáo S.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo D rủ rê bị cáo S phạm tội khi bị cáo S chƣa đủ 18 tuổi thuộc trƣờng hợp xúi giục ngƣời chƣa thành niên phạm tội là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đƣợc quy định tại Điểm n Khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo S phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng; tài sản chiếm đoạt đã đƣợc thu hồi và trả lại cho bị hại; ngƣời bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên áp dụng các Điểm g, h, p Khoản 1 Điều 46; Khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Riêng bị cáo S phạm tội khi mới 17 tuổi 03 tháng 23 ngày, nhận thức pháp luật bị hạn chế nên áp dụng Điều 69, Khoản 1 Điều 74 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Xét bị cáo S có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cƣ trú rõ ràng, việc không cách ly bị cáo ra khỏi xã hội không gây nguy hiểm cho xã hội nên áp dụng Điều 60 Bộ luật Hình sự cho bị cáo S hƣởng án treo, giao cho chính quyền địa phƣơng nơi cƣ trú giám sát giáo dục. Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng pháp luật nên đƣợc chấp nhận.

Lời đề nghị của ngƣời bào chữa cho bị cáo Sỹ tại phiên tòa là chƣa phù hợp, chƣa đủ tính chất răn đe, giáo dục bị cáo nên không chấp nhận.

Về xử lý vật chứng:

Tài sản các bị cáo chiếm đoạt là chiếc xe môtô biển số 67H1-321.53, nhãn hiệu Yamaha Exciter 150 màu trắng đỏ, quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Thuận An đã trả lại cho bị hại là ông Huỳnh Văn T2. Ông T2 không có yêu bồi thƣờng gì khác nên không xem xét.

01 chiếc xe môtô 60AK-030.79 nhãn hiệu Halim-Krea, màu đỏ đen do ông Lại Thanh M đứng tên đăng ký chủ sở hữu và giấy bán xe ngày 03/6/2016, quá trình điều tra xác định chiếc xe này ông Minh đã chuyển nhƣợng cho ông Nguyễn Tiến D và ông D tiếp tục chuyển nhƣợng lại cho bà Lƣơng Thị H1 (là mẹ ruột của bị cáo D) nhƣng chƣa làm thủ tục sang tên. Về ý thức, khi giao xe cho các bị cáo sử dụng bà không biết các bị cáo sử dụng chiếc xe để đi thực hiện hành vi phạm tội nên cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã Thuận An đã trả lại chiếc xe và giấy bán xe ngày 03/6/2016 cho bà H1 là đúng quy định của pháp luật.

03 (ba) thẻ giữ xe có đóng mộc màu xanh hai mặt có chữ ký TBS Group Đội bảo vệ gồm số 1165, số 144 và số 1288 do ông Bùi Trung T làm để giữ xe, không yêu cầu nhận lại nên sẽ tịch thu tiêu hủy.

01 (một) chiếc xe đạp kiểu dáng Martin màu trắng bạc, đây là tài sản do bị cáo D và bị cáo S mua để sử dụng làm phƣơng tiện phạm tội nên sẽ tịch thu, sung quỹ Nhà nƣớc.

Đối với viên phấn mà các bị cáo sử dụng thực hiện phạm tội, quá trình điều tra không thu hồi đƣợc nên không đề cập xử lý.

Về án phí: Các bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 138; Điểm g, h, p Khoản 1 Điều 46, Khoản 2 Điều 46; Điểm n Khoản 1 Điều 48; Điều 53 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn D,

- Khoản 1 Điều 138; Điểm g, h, p Khoản 1 Điều 46; Khoản 2 Điều 46; Đều 53; Điều 69; Khoản 1 Điều 74 và Điều 60 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn S,

- Khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự, Khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự,

- Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn D và Nguyễn Văn S phạm tội trộm cắp tài sản.

Xử phạt: Nguyễn Văn D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2017.

Xử phạt: Nguyễn Văn S 09 (chín) tháng tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 18 (mƣời tám) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Văn S cho Ủy ban nhân dân phƣờng B, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

2. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu, tiêu hủy 03 (ba) thẻ giữ xe có đóng mộc màu xanh hai mặt có chữ ký TBS Group Đội bảo vệ gồm số 1165, số 144 và số 1288.

- Tịch thu, sung quỹ Nhà nƣớc 01 (một) chiếc xe đạp kiểu dáng Martin màu trắng bạc.

(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/11/2017)

3. Về án phí:

Các bị cáo Nguyễn Văn D và Nguyễn Văn S, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, ngƣời đại diện hợp pháp của bị cáo Sỹ, ngƣời bào chữa cho bị cáo Sỹ, bị hại và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết./. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ