vanban.org

Bản án 28/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2025) đối với Bùi Văn T và Bùi Mạnh L.

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Bùi Văn T và Bùi Mạnh L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2025) đối với Bùi Văn T và Bùi Mạnh L.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2025/HS-ST
Ngày 28 - 11 -2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cúc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lưu Đình Tâm

2. Bà Trương Thị Hồng Xuân

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2025/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Bùi Văn T; Sinh ngày: 05/01/2002, tại xã T (Nay là xã V), tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã V, tỉnh Thanh Hóa; Số CCCD: 038202004249 (Theo danh, chỉ bản số 77 do Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa lập ngày 15/8/2025); nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 07/12; Con ông: Bùi Văn Đ và bà: Cao Thị L; Tiền án; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/8/2025 đến ngày 15/8/2025, sau đó chuyển tạm giam từ ngày 15/8/2025 đến nay; có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Bùi Mạnh L; Sinh ngày: 05/09/2000, tại xã T (Nay là xã V), tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã V, tỉnh Thanh Hóa; Số CCCD: 038200012560 (Theo danh, chỉ bản số 76 do Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa lập ngày 15/8/2025); nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông: Bùi Duy T và bà: Bùi Thị T; Tiền án; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/8/2025 đến ngày 15/8/2025, sau đó chuyển tạm giam từ ngày 15/8/2025 đến nay; có mặt tại phiên tòa.

Những người tham gia tố tụng khác:

- Người bào chữa cho bị cáo T: Bà Nguyễn Thị Quế - Trợ giúp viên pháp lý

Nơi công tác: Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước, tỉnh Thanh Hóa.

Có mặt

- Người bào chữa cho bị cáo L: Bà Lê Thu Hằng - Trợ giúp viên pháp lý

Nơi công tác: Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước, tỉnh Thanh Hóa.

Có mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Cao Thị L; sinh năm: 1972

Địa chỉ: Thôn Đ, xã V, tỉnh Thanh Hóa.

Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ ngày 05/8/2025, tại phòng ngủ nhà ở của Bùi Mạnh L tại thôn Đ, xã V, tỉnh Thanh Hoá. Bùi Mạnh L và Bùi Văn T đã thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, loại Methamphetamin cho nhau. Trong đó Bùi Văn T là người khởi xướng, rủ L sử dụng ma túy, chuẩn bị chất ma túy và dụng cụ (cóng thuỷ tinh) để sử dụng ma túy, trực tiếp đốt ma túy cho L sử dụng; Bùi Mạnh L là người chuẩn bị địa điểm, tìm kiếm dụng cụ sử dụng ma túy (01 chai nhựa; 02 ống hút nhựa; 01 chiếc kéo) để thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho Bùi Văn T và bản thân.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận: Khoảng 15 giờ ngày 05/08/2025, Bùi Mạnh L đi bộ sang nhà Bùi Văn T. Tại đây T nói với L “kiếm tý đá về chơi”, L hiểu ý T rủ L cùng đi mua ma túy đá về sử dụng nên L đồng ý, T nói “nấu cơm xong thì đi”. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, màu đen, biển kiểm soát 36AE-01685 đón L đi tỉnh Ninh Bình để tìm mua ma túy. Khi đến khu vực chợ Đồng Giao, phường Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình, T bảo L đứng trông xe. T đi bộ một mình tìm mua ma túy và gặp được một người đàn ông khoảng 30 tuổi dáng người gầy, cao khoảng 165cm tóc cắt ngắn không nhuộm, đeo khẩu trang mặc áo phông có cổ màu đen, quần sooc màu ghi, người này giới thiệu tên là T hỏi T muốn mua ma túy thì đưa tiền. T đồng ý mua 500.000đ ma túy đá và hỏi xin thêm 01 cóng thủy tinh để sử dụng ma túy đá. T đưa cho người này 500.000đ (năm trăm nghìn đồng). Người này đưa cho T 01 cuộn giấy ăn bên trong chứa 01 cóng thủy tinh và 01 gói giấy bạc (loại vỏ giấy bạc bao thuốc lá), bên trong gói giấy bạc có chứa ma túy đá. Sau khi mua được ma tuý T quay ra đưa gói ma tuý cho L cầm, rồi điều khiển xe chở L đi về. Trên đường về T và L thống nhất mang ma túy về nhà L cùng nhau sử dụng. Khoảng 20 giờ cùng ngày, T và L về đến nhà L và cùng lên phòng ngủ của L trên tầng 2. L tìm trong khu vực nhà được 01 chai nhựa, 02 ống hút nhựa và kéo đưa cho T, T dùng kéo đục lỗ nắp chai nhựa, cắm ống hút nhựa và cóng thủy tinh vào nắp chai để làm dụng cụ sử dụng ma túy. T, L cùng nhau dùng ống nhựa được cắt vát nhọn một đầu xúc ma túy đá cho vào bầu cóng thủy tinh, T sử dụng bật lửa (có sẵn trong phòng L) đốt ma túy cho T và L sử dụng hết số ma túy nêu trên. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, T đi về nhà mình. Khi ra về, T lấy cóng thủy tinh cất giấu vào trong người mang ra đường vứt vào vườn nhà dân rồi đi về nhà.

Đến khoảng 21 giờ 30 ngày 05/8/2025, tổ công tác tiến hành kiểm tra nhà ở của Bùi Mạnh L. Quá trình kiểm tra Công an phát hiện trên giường ngủ của L có 01(một) chiếc bật lửa ga màu xanh; 01(một) chai nhựa có nắp chai đục 02 lỗ; 02 (hai) ống hút bằng nhựa; 01(một) chiếc kéo cán nhựa màu đỏ; 01(một) mảnh giấy bạc màu vàng kích thước khoảng (3x5)cm. Tại chỗ Bùi Mạnh L khai nhận vừa sử dụng trái phép chất ma túy cùng với Bùi Văn T. Tại Cơ quan điều tra, Bùi Mạnh L, Bùi Văn T xin đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với: Bùi Mạnh L, Bùi Văn T đều dương tính với ma túy loại Methamphetamine.

Tại bản Kết luận giám định số 2886/KL-KTHS ngày 12 tháng 08 năm 2025 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thanh Hoá, kết luận: “Tìm thấy chất ma tuý, loại: Methamphetamine trong mẫu nước tiểu ghi thu của Bùi Mạnh L, Bùi Văn T gửi giám định”.

Tại bản Kết luận giám định số 3278/KL-KTHS ngày 03 tháng 09 năm 2025 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thanh Hoá, kết luận:

“- Tìm thấy chất ma túy, loại: Methamphetamine bám dính trong chai nhựa, ống hút và trên mảnh giấy bạc màu vàng kích thước khoảng (3x5)cm.

- Không tìm thấy chất ma túy bám dính trên chiếc bật lửa ga và trên kéo gửi giám định”.

Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ:

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade màu đen, biển kiểm soát: 36AE-01685 thu giữ của Bùi Văn T, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu chiếc xe là Bùi Văn T. T đã sử dụng xe mô tô trên làm phương tiện đi mua ma túy để thực hiện hành vi phạm tội, là vật chứng của vụ án. Hiện đang được quản lý, bảo quản tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7, tỉnh Thanh Hoá, chờ xử lý theo quy định pháp luật.

- 01(một) chiếc bật lửa ga màu xanh; 01(một) chai nhựa có nắp chai đục 02 lỗ; 02 (hai) ống hút bằng nhựa; 01(một) chiếc kéo cán nhựa màu đỏ; 01(một) mảnh giấy bạc màu vàng kích thước khoảng (3x5)cm. Tất cả được dán kín niêm phong bởi giấy trắng có các chữ ký ghi rõ họ tên Lại Thị Thanh Loan, Bùi Xuân Cảnh, Lê Minh Tiến và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa. Hiện đang được bảo quản tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7 chờ xử lý theo quy định pháp luật.

- Đối với 01 (một) cóng thủy tinh (dụng cụ dùng để sử dụng ma túy). Sau khi phạm tội T khai báo đã vứt vào vườn nhà dân trên đường về nhà. Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành truy tìm vật chứng nhưng không thu giữ được.

Tại bản cáo trạng số 06/CT-VKSKV7 ngày 27/10/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Thanh Hóa, đã truy tố các bị cáo Bùi Văn T và Bùi Mạnh L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2025 được sửa đổi, bố sung năm 2025.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2025) để xử phạt Bùi Văn T từ 45 đến 48 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (Ngày 06/8/2025).

Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2025) để xử phạt Bùi Mạnh L từ 42 đến 45 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (Ngày 06/8/2025).

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade màu đen, biển kiểm soát: 36AE-01685 thu giữ của Bùi Văn T;

Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ bao vỏ gói mở niêm phong và 01(một) chiếc bật lửa ga màu xanh; 01(một) chai nhựa có nắp chai đục 02 lỗ; 02 (hai) ống hút bằng nhựa; 01(một) chiếc kéo cán nhựa màu đỏ; 01(một) mảnh giấy bạc màu vàng kích thước khoảng (3x5)cm. Tất cả được dán kín niêm phong bởi giấy trắng có các chữ ký ghi rõ họ tên Lại Thị Thanh Loan, Bùi Xuân Cảnh, Lê Minh Tiến và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa.

- Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

* Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

* Ý kiến của người bào chữa:

- Đề nghị HĐXX xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo, xử các bị cáo mức hình phạt bằng hoặc thấp hơn mức hình phạt thấp nhất mà đại diện VKS đề nghị;

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo;

- Các bị cáo đề là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn là người được miễn tiền án phì hình sự vì vậy đề nghị HĐXX xem xét miễn tiền án phí hình sự cho các bị cáo.

* Ý kiến của bà Cao Thị L: Bà là mẹ của bị cáo T. Chiếc xe Honda AirBlade màu đen BKS 36AE-016.85 là tài sản của gia đình bà tích góp mua được. Do bà và chồng bà không có giấy phép lái xe nên khi đi làm thủ tục đăng ký xe đã để con trai Bùi Văn T đứng tên. Việc T sử dụng chiếc xe này để đi mua ma túy bà và gia đình không biết, do đó bà đề nghị được nhận lại.

* Ý kiến đối đáp của đại diện VKS đối với tranh luận của bà L: Chiếc xe hiện đang đứng tên chủ sở hữu là Bùi Văn T. Đây là công cụ, phương tiện mà Bùi Văn T dùng vào việc phạm tội. Bà L cho rằng đây là tài sản chung của gia đình nhưng không có căn cứ chứng minh. Do đó, không chấp nhận đề nghị của bà L.

Trong lời nói sau cùng các bị cáo rất hối hận về hành vi của mình đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Thanh Hóa, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội: Vào khoảng 20 giờ ngày 05/8/2025, tại phòng ngủ nhà ở của gia đình, Bùi Mạnh L và Bùi Văn T đã thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, loại Methamphetamin cho nhau. Trong đó Bùi Văn T là người khởi xướng, rủ L sử dụng ma túy, chuẩn bị chất ma túy và dụng cụ (cóng thuỷ tinh) để sử dụng ma túy, trực tiếp đốt ma túy cho L sử dụng; Bùi Mạnh L là người chuẩn bị địa điểm, tìm kiếm dụng cụ sử dụng ma túy (01 chai nhựa; 02 ống hút nhựa; 01 chiếc kéo) để thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho Bùi Văn T và bản thân. Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở để khẳng định hành vi của Bùi Văn T và Bùi Mạnh L đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện trưởng VKSND khu vực 7 - Thanh Hóa truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3]. Về trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn do Bùi Văn T và Bùi Mạnh L thực hiện. Các bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đều nhận thức được hành vi sử dụng ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Trong vụ án này, Bùi Văn T là người khởi xướng, là người trực tiếp đi mua ma túy, chuẩn bị công cụ để sử dụng ma túy cho bản thân và Bùi Mạnh L nên có vai trò thứ nhất. Bùi Mạnh L là người chuẩn bị địa điểm, tìm kiếm công cụ để sử dụng ma túy cùng với T nên có vai trò thấp hơn T.

[4]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và cùng có các tình tiết giảm nhẹ là “Thành khẩn khai báo” và “Đầu thú” theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo Bùi Mạnh L có ông chú (Em của ông nội bị cáo) là người có công với cách mạng, được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba và đã hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, gia đình L đang trực tiếp thờ cúng liệt sĩ nên L được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5]. Xét về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và hình phạt: Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về ma túy, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác và các tệ nạn xã hội, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do vậy cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự, cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo theo quy định tại Điều 38 Bộ luật hình sự để cải tạo các bị cáo thành công dân tốt, đồng thời giáo dục và phòng ngừa chung.

[6]. Đối với người đàn ông tên T, theo lời khai của Bùi Văn T là người đã bán ma tuý cho T ở khu vực chợ Đồng Giao, tỉnh Ninh Bình. Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát camera, xác minh đặc điểm thông tin về người, nhưng không xác định được đặc điểm, nhân thân của người này. Ngoài lời khai của T không có tài liệu chứng cứ khác về người bán ma túy nên không có đủ căn cứ để xác minh làm rõ xử lý theo quy định.

[7]. Đối với yêu cầu nhận lại chiếc xe Honda AirBlade màu đen, biển kiểm soát 36AE-01685 của bà Cao Thị L: Chiếc xe hiện đang đứng tên chủ sở hữu là Bùi Văn T. Đây là công cụ, phương tiện mà Bùi Văn T dùng để đi mua ma túy. Bà L cho rằng đây là tài sản chung của gia đình nhưng không có căn cứ chứng minh. Do đó, không chấp nhận yêu cầu của bà L.

[8]. Đối với ông Bùi Duy T và bà Bùi Thị T là bố mẹ của bị cáo Bùi Mạnh L. Khi L đưa T về nhà ở của gia đình để sử dụng ma tuý tại phòng ngủ của L thì ông T và bà T không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo, do đó Cơ quan điều tra không xử lý.

[9]. Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Bản thân các bị cáo không có tài sản. Do đó, không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo.

[10]. Về xử lý vật chứng:

- Đối với Honda AirBlade màu đen, biển kiểm soát: 36AE-01685 đứng tên chủ sở hữu Bùi Văn T. Đây là công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội, cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 hộp giấy, bên trong có 01(một) chiếc bật lửa ga màu xanh; 01(một) chai nhựa có nắp chai đục 02 lỗ; 02 (hai) ống hút bằng nhựa; 01(một) chiếc kéo cán nhựa màu đỏ; 01(một) mảnh giấy bạc màu vàng kích thước khoảng (3x5)cm. Tất cả được dán kín niêm phong bởi giấy trắng có các chữ ký ghi rõ họ tên Lại Thị Thanh Loan, Bùi Xuân Cảnh, Lê Minh Tiến và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa. Đây là đồ vật có giá trị không đáng kể, cần tịch thu tiêu hủy.

[11]. Về án phí: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Người bào chữa cũng đề nghị miễn án phí cho các bị cáo. Do đó, HĐXX chấp nhận, miễn án phí HSST cho các bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2025) đối với Bùi Văn T và Bùi Mạnh L.

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Bùi Văn T và Bùi Mạnh L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 45 (Bốn lăm) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị tạm giữ (Ngày 06/8/2025).

Xử phạt bị cáo Bùi Mạnh L 42 (Bốn hai) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị tạm giữ (Ngày 06/8/2025).

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu, nôp ngân sách nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade màu đen, biển kiểm soát: 36AE-01685 đứng tên chủ sở hữu Bùi Văn T;

- Tịch thu tiêu hủy: 01(một) chiếc bật lửa ga màu xanh; 01(một) chai nhựa có nắp chai đục 02 lỗ; 02 (hai) ống hút bằng nhựa; 01(một) chiếc kéo cán nhựa màu đỏ; 01(một) mảnh giấy bạc màu vàng kích thước khoảng (3x5)cm. Tất cả được dán kín niêm phong bởi giấy trắng có các chữ ký ghi rõ họ tên Lại Thị Thanh Loan, Bùi Xuân Cảnh, Lê Minh Tiến và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa.

*(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/11/2025 giữa Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa và phòng Thi hành án Dân sự khu vực 7 – Thanh Hóa).

4. Về án phí: Áp dụng điểm đ, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH, miễn nộp tiền án phí cho các bị cáo.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo, người bào chữa cho bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ