vanban.org

Bản án 28/2024/LĐ-ST — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 26/06/2024 Lao động Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn C đối với Công ty TNHH N về việc tranh chấp về tiền lƣơng.

Buộc Công ty TNHH N có trách nhiệm trả cho ông Lê Văn C tổng số tiền lƣơng còn nợ là 7.629.000 (bảy triệu sáu trăm hai mƣơi chín nghìn) đồng, trong đó: tiền lƣơng tháng 3/2024 là 3.827.000 (ba triệu tám trăm hai mƣơi bảy nghìn) đồng và tháng 4/2024 là 3.802.000 (ba triệu tám trăm lẻ hai nghìn) đồng.… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "lê Văn C- Công ty N"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn C đối với Công ty TNHH N về việc tranh chấp về tiền lƣơng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Bộ luật Lao động; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
—————————
Bản án số: 28/2024/LĐ-ST
Ngày: 26-6-2024
V/v Tranh chấp tiền lƣơng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phan Thị Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Ngọc, cán bộ hƣu trí.

2. Ông Đoàn Nam Lê Thiện, cán bộ liên đoàn lao động thành phố Dĩ An.

- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Anh Ly, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Ngọc Trân, Kiểm sát viên.

Vào ngày 26 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 93/2024/TLST-LĐ ngày 07 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp về tiền lƣơng” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 42/2024/QĐXXST-LĐ ngày 24 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2024/QĐST-LĐ ngày 10 tháng 6 năm 2024, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: ông Lê Văn C, sinh năm 2006; thƣờng trú: ấp V, xã L, huyện T, tỉnh An Giang; tạm trú: 102/2 khu phố A, phƣờng A, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Công ty TNHH N; trụ sở: số A, đƣờng T, khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng.

Ngƣời đại diện theo pháp luật: ông W, SHENG CHENG, sinh năm 1972; địa chỉ: số A, đƣờng T, khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Lê Văn C trình bày:

Ông Lê Văn C là công nhân làm việc tại Công ty TNHH N (sau đây gọi tắt là Công ty N), bắt đầu từ tháng 02/2024 nhƣng công ty không ký Hợp đồng lao động với ông C. Vị trí làm việc là công nhân phôi, với mức lƣơng là 4.680.000 đồng/tháng.

Trong thời gian làm việc, Công ty N vẫn trả lƣơng đầy đủ cho ông C nhƣng từ tháng 3/2024 đến tháng 4/2024 thì Công ty không trả lƣơng. Lƣơng tháng 3 của ông C là 9.827.000 đồng, Công ty đã trả cho ông C làm 03 đợt, bao gồm: đợt 1 là 2.500.000 đồng, đợt 2 là 2.000.000 đồng, đợt 3 là 1.500.000 đồng, còn lại là 3.827.000 đồng. Từ ngày 17/4/2024, ông C nghỉ việc do Công ty không làm việc nữa. Số tiền lƣơng tháng 4/2024 mà Công ty N còn nợ ông C là 3.802.000 đồng. Tổng số tiền lƣơng mà Công ty N còn nợ ông C là 7.629.000 đồng (trong đó: tiền lƣơng tháng 3/2024 là 3.827.000 đồng và tháng 4/2024 là 3.802.000 đồng). Mặc dù, ông C nhiều lần yêu cầu công ty N trả tiền lƣơng còn nợ nhƣng không nhận đƣợc phản hồi từ phía Công ty.

Ông C chỉ là công nhân làm công ăn lƣơng, cuộc sống còn nhiều khó khăn nhƣng việc Công ty N không trả lƣơng cho ông C là làm ảnh hƣởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của ông C. Vì vậy, ông Lê Văn C khởi kiện yêu cầu Toà án buộc Công ty TNHH N phải thanh toán cho ông C tiền lƣơng còn thiếu là 7.629.000 đồng, trong đó: tiền lƣơng tháng 3/2024 là 3.827.000 đồng và tháng 4/2024 là 3.802.000 đồng.

- Đối với bị đơn Công ty TNHH N: Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án và thông báo phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải yêu cầu bị đơn có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên, bị đơn không có ý kiến, không cung cấp thêm bất cứ tài liệu, chứng cứ nào.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: quá trình tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa, nguyên đơn đã chấp hành và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn đã đƣợc triệu tập tham gia phiên tòa vào ngày 10/6/2024 và ngày 26/6/2024 nhƣng vắng mặt không có lý do, vì vậy Tòa án căn cứ vào các Điều 227, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn, nguyên đơn là đúng.

Về nội dung: nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải thanh toán tiền lƣơng trong thời gian nguyên đơn làm việc và Tòa án đã thu thập đƣợc tài liệu, chứng cứ là bảng lƣơng tháng 3/2024 và tháng 4/2024 tại Công ty TNHH N, bị đơn không có ý kiến và cung cấp bất cứ chứng cứ nào liên quan đến việc giải quyết vụ án, vì vậy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Tòa án nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: nguyên đơn ông Lê Văn C khởi kiện đòi tiền lƣơng phát sinh từ giao dịch lao động với bị đơn Công ty TNHH N, theo kết quả thu thập đƣợc tại Sở Kế hoạch và Đầu tƣ tỉnh Bình Dƣơng thì Công ty TNHH N hiện có trụ sở tại 1, đƣờng T, khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Vì vậy, quan hệ pháp luật đƣợc xác định là “Tranh chấp về tiền lƣơng” và thuộc thẩm quyền giải quyết Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 32, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về sự vắng mặt của đƣơng sự: Tòa án đã triệu tập bị đơn tham gia phiên tòa vào ngày 10/6/2024 và ngày 26/6/2024 nhƣng vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 227 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lƣơng còn lại của tháng 3/2024 và tháng 4/2024, Tòa án đã tiến hành thu thập đƣợc bảng lƣơng tháng 3/2024 và tháng 4/2024 của Công ty TNHH N. Bị đơn không cung cấp bất cứ chứng cứ nào đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy, Tòa án căn cứ vào chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập đƣợc để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng: ông Lê Văn C vào làm việc tại Công ty TNHH N bắt đầu từ 26/02/2024 nhƣng giữa hai bên không ký hợp đồng lao động là vi phạm quy định tại Điều 14 Bộ luật Lao động năm 2019. Tuy nhiên, căn cứ vào bảng lƣơng tháng 3/2024 và tháng 4/2024 có cơ sở xác định giữa nguyên đơn và bị đơn có quan hệ lao động theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Bộ luật Lao động.

Xét thấy, tại các bảng kê chi tiết tiền lƣơng các tháng 3, tháng 4 năm 2024 đã đƣợc Công ty TNHH N ban hành, tháng 3/2024 lƣơng của nguyên đơn là 9.827.000 đồng, bị đơn đã trả 6.000.000 đồng, còn thiếu là 3.827.000 đồng, lƣơng của nguyên đơn tháng 4/2024 là 3.802.000 đồng bị đơn chƣa trả nên số tiền còn thiếu là 3.802.000 đồng. Tổng số tiền lƣơng mà bị đơn còn thiếu là 7.629.000 đồng. Việc bị đơn không trả lƣơng đầy đủ, đúng hạn cho ngƣời lao động là vi phạm quy định về nguyên tắc trả lƣơng tại Điều 94, 95 Bộ luật Lao động.

Từ những phân tích trên, có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An là phù hợp.

Về án phí lao động sơ thẩm: bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 32, 39, 91, 147, 227, 228, 238, 244, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 3, 14, 90, 94 và 95 Bộ luật Lao động; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn C đối với Công ty TNHH N về việc tranh chấp về tiền lƣơng.

Buộc Công ty TNHH N có trách nhiệm trả cho ông Lê Văn C tổng số tiền lƣơng còn nợ là 7.629.000 (bảy triệu sáu trăm hai mƣơi chín nghìn) đồng, trong đó: tiền lƣơng tháng 3/2024 là 3.827.000 (ba triệu tám trăm hai mƣơi bảy nghìn) đồng và tháng 4/2024 là 3.802.000 (ba triệu tám trăm lẻ hai nghìn) đồng.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, ngƣời đƣợc thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, ngƣời phải thi hành án không thi hành thì còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất huy động tiền gửi do Ngân hàng N1 công bố vào thời điểm trả tiền.

2. Án phí lao động sơ thẩm: Công ty TNHH N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.

4. Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ