- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trung K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH THƯỢNG TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2024/HS-ST Ngày: 25.12.2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH THƯỢNG, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Ông Nguyễn Tấn Lợi
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Hoàng Kiệt
2. Ông Nguyễn Hoàng Hổ
Thư ký phiên tòa: Bà Quách Huỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Tôn Minh Nhật - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang. Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang tiến hành mở phiên tòa trực tuyến xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Trung K, sinh ngày 08/02/1992
N sinh: huyện U, tỉnh Kiên Giang;
Nơi cư trú: Ấp K, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang..
Nghề nghiệp: làm rẫy; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc kinh; giới tính Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.
Con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1940 (chết) và bà Đặng Thị Á, sinh năm 1945.
Vợ: không;
Con: Không.
Tiền án, tiền sự: không. Nhưng nhân thân xấu:
+Ngày 19/01/2011, bị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang tuyên phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 (Đã xóa án tích).
+ Ngày 04/12/2014, bị Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang tuyên phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 (Đã xóa án tích).
+ Ngày 09/3/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long tuyên phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 (Đã xóa án tích).
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/8/2024 cho đến nay (có mặt).
* Bị hại:
1/ Đinh Văn H, sinh ngày 01/01/1974. Có đơn xin vắng mặt
2/ Nguyễn Thị Hồng D, sinh ngày 01/01/1974 Có đơn xin vắng mặt
Cùng địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Võ Văn V , sinh ngày 01/01/1985 có đơn xin vắng mặt Địa chỉ: Ấp C, xã A, huyện U, tỉnh Kiên Giang. Những người làm chứng: 1/ Hồ Thị S, sinh năm 1964 vắng mặt Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện V , tỉnh Kiên Giang. 2/Nguyễn V , sinh ngày 01/01/1988 vắng mặt Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang. 3/ Bùi Minh K1, sinh ngày 24/11/1997 vắng mặt Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện U, tỉnh Kiên Giang. 4/Trang V, sinh ngày 08/01/1986 vắng mặt Địa chỉ: Ấp K, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ông Đinh Văn H và vợ là bà Nguyễn Thị Hồng D cùng cư trú tại ấp M, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang, có phần diện tích đất 20.000m2 đang trồng chuối, tọa lạc tại ấp K, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang. Nguyễn Trung K là em ruột của bà Nguyễn Thị Hồng D, có nhà tại ấp K, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang và có phần diện tích đất trồng khóm phía sau nhà, giáp ranh với đất trồng chuối của vợ chồng ông H, bà D.
Trong khoảng thời gian từ ngày 20/7/2024 đến ngày 22/8/2024, Nguyễn Trung K lợi dụng việc ông H, bà D có nhà ở xa đất trồng chuối, không có điều kiện trông coi tài sản, nên đã mang theo dao rồi bơi xuồng (chiếc xuồng của ông H dùng làm phương tiện đi lại trong quá trình canh tác trồng trọt) đi ra phần diện tích đất trồng chuối của vợ chồng ông H đốn trộm chuối sau đó bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Vào khoảng 10 giờ ngày 20/7/2024, Nguyễn Trung K mang theo dao yếm dài 55cm, bơi xuồng đi ra phần đất trồng chuối của vợ chồng ông Đinh Văn H dùng dao đốn trộm được 09 buồng chuối xiêm (tổng cộng 40 nải). Sau đó, K đem số chuối trên bán cho bà Hồ Thị S được số tiền là 440.000 đồng.
Lần thứ hai: Vào khoảng 10 giờ, ngày 22/7/2024, Nguyễn Trung K mang theo dao yếm dài 55cm, bơi xuồng đi ra phần đất trồng chuối của vợ chồng ông Đinh Văn H đến trộm được 14 buồng chuối xiêm (tổng cộng 100 nải) và 25 bắp chuối xiêm (cân nặng 24 kg). Sau đó, K đem 14 buồng chuối xiêm bán cho ông Nguyễn Văn A được số tiền là 1.100.000 đồng, còn số bắp chuối K đem về nhà cất giữ.
Lần thứ ba: Vào khoảng 10 giờ ngày 24/7/2024, Nguyễn Trung K mang theo dao yếm dài 55cm, bơi xuồng đi ra phần đất trồng chuối của vợ chồng ông Đình Văn H1 đốn trộm được 28 buồng chuối xiêm (tổng cộng 170 nải) đem về nhà K cất giữ. Sau đó, K đem 25 bắp chuối xiêm đã trộm được vào ngày 22/7/2024 đến bán cho ông Trang Văn T ở ấp K, xã M, huyện U, được số tiền là 150.000 đồng. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, K đem 28 buồng chuối vừa trộm được đem bán cho Bùi Minh K1 thì bị Công an xã M phát hiện lập biên bản sự việc. Do tài sản dễ hư hỏng nên Công an xã M đã lập biên bản trao trả số chuối trên cho ông Đinh Văn H. Sau đó, ông H bán lại số chuối trên cho Bùi Minh K1 được số tiền là 1.955.000 đồng.
Lần thứ tư: Vào khoảng 08 giờ ngày 17/8/2024, Nguyễn Trung K mượn con dao yếm dài 39cm của ông Nguyễn Văn Đoàn E rồi bơi xuồng đi ra phần đất trồng chuối của vợ chồng ông Đinh Văn H đốn trộm được 41 buồng chuối xiêm, loại chuối già còn xanh vỏ (tổng cộng 245 nải) và 70 bắp chuối xiêm (cân nặng 80 kilôgam). Sau đó, K đem số chuối trên ra để cặp lề lộ bê tông gần nhà của K. Đến khoảng 09 giờ ngày 18/8/2024, K đem số bắp chuối đã trộm trên bán cho ông Võ Văn V được số tiền là 320.000 đồng, còn 41 buồng chuối xiêm đang để chuẩn bị bán thì bị Công an xã M đến lập biên bản bắt quả tang, thu giữ 41 buồng chuối xiêm. Võ Văn V sau đó đã giao nộp lại 70 bắp chuối đã mua từ K. Do tài sản dễ hư hỏng nên Công an xã M đã lập biên bản trao trả lại số chuối và bắp chuối trên cho ông Đinh Văn H. Sau khi nhận lại tài sản, ông H đã bán lại số chuối trên được số tiền 2.500.000 đồng. Đến khoảng 16 giờ ngày 19/8/2024, Nguyễn Trung K đi đến nhà của ông Đinh Văn H rồi đứng trước cổng nhà la lớn tiếng và cầm con dao có chiều dài 60cm chém vào cổng rào bằng kim loại (không gây hư hỏng tài sản) kêu ông H đưa lại tiền bán chuối nhưng ông H không đưa, K mới bỏ đi về. Đến khoảng 12 giờ ngày 20/8/2024, K tiếp tục đi đến nhà ông H và đứng trước cổng nhà, sau đó K2 lấy đá ném vào bên trong sân nhà ông H (không gây hư hỏng tài sản), kêu ông H đưa lại số tiền ông H đã bán chuối. Thấy K quậy phá nên ông H mới lấy số tiền 2.500.000 đồng đã bán chuối đưa cho K. K nhận tiền rồi bỏ đi.
Lần thứ năm: Khoảng 10 giờ ngày 21/8/2024, Nguyễn Trung K mang theo dao yếm dài 55cm, bơi xuồng đi ra phần đất trồng chuối của vợ chồng ông Đinh Văn H đốn trộm được khoảng 20 buồng chuối xiêm, loại chuối già còn xanh vỏ. Sau đó, K đem số chuối đã trộm ra để cặp lề lộ bê tông gần nhà của K. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, K tiếp tục mang dao rồi bơi xuống đi ra phần đất trồng chuối của vợ chồng ông Đinh Văn H đốn trộm được khoảng 30 buồng chuối xiêm, loại chuối già còn xanh vỏ, sau đó K đem số chuối đã trộm ra để cặp lề lộ bê tông. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, K tiếp tục bơi xuồng đi ra phần đất trồng chuối của vợ chồng ông Đinh Văn H đốn trộm được khoảng 25 buồng chuối xiêm, loại chuối già còn xanh vỏ, rồi chở số chuối vào để phía trước nhà của K. Đến khoảng 09 giờ ngày 22/8/2024, Nguyễn Trung K tiếp tục mang theo dao bơi xuồng đi ra phần đất trồng chuối của vợ chồng ông Đinh Văn H đến trộm khoảng 28 buồng chuối xiêm, loại chuối già còn xanh vỏ. Sau đó, K mang số chuối đã trộm vào để phía trước nhà của K. Lúc này, ông H phát hiện K đốn trộm chuối nên đến Công an xã M trình báo sự việc. Sau đó, Công an xã M đến kiểm tra phát hiện thu giữ 103 buồng chuối (tổng cộng 600 nải chuối). Do tài sản dễ hư hỏng nên Công an xã M lập biên bản trao trả lại 103 buồng chuối trên cho ông H.
Khoảng 13 giờ ngày 23/8/2024, Nguyễn Trung K đi bộ đến trước quán cơm “Anh V1” thuộc ấp M, xã M, huyện U thì thấy có con dao yếm dài 72cm của ông Ngô Văn H2 để trên võng xe mô tô biển số 68U1-2429 đỗ phía trước. K mới lấy con dao cầm trên tay rồi đi đến chiếc xe mô tô mang biển số 60B9-027.69 của ông Đặng Thanh C đang đỗ trước quán cơm, nhằm mục đích lấy chiếc xe mô tô trên làm phương tiện đi tìm người mua chuối rồi sẽ trả lại, lúc này ông C đang ăn cơm bên trong quán. Thấy K lấy con dao của mình nên H2 mới đi ra kêu K trả lại con dao nhưng K không trả. Sau đó, K bút dây mass xe mô tô biển số 60B9-027.69 rồi nổ máy điều khiển chạy đi. Thấy xe bị K lấy mất nên ông C đến Công an xã M trình báo sự việc.
Tại Kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐGTS, ngày 26/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện U kết luận:
- 40 (bốn mươi) nải chuối xiêm, tại thời điểm bị xâm hại vào ngày 20/7/2024, tài sản có giá trị là 440.000 đồng.
- 100 (một trăm) nải chuối xiêm, tại thời điểm bị xâm hại vào ngày 22/7/2024, tài sản có giá trị là 1.100.000 đồng
- 24 (hai mươi bốn) kilôgam bắp chuối xiêm, tại thời điểm bị xâm hại vào ngày 22/7/2024, tài sản có giá trị là 150.000 đồng.
- 170 (một trăm bảy mươi) nải chuối xiêm, tại thời điểm bị xâm hại vào ngày 24/7/2024, tài sản có giá trị là 1.955.000 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 15/KL-HĐĐGTS, ngày 26/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện U kết luận:
- 245 (hai trăm bốn mươi lăm) nải chuối xiêm, loại chuối già còn xanh vỏ, tại thời điểm bị xâm hại vào ngày 17/8/2024, tài sản có giá trị là 2.695.000 đồng.
- 80 (tám mươi) kilôgam bắp chuối xiêm, tại thời điểm bị xâm hại vào ngày 17/8/2024, tài sản có giá trị là 320.000 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 16/KL-HĐĐGTS, ngày 16/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện U kết luận:
- 600 (sáu trăm) nải chuối xiêm, loại chuối già còn xanh vỏ, giá mua 12.000 đồng/nải,, tài sản có giá trị là 7.200.000 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐGTS, ngày 23/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện U kết luận:
- 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Wave Trung Quốc, màu đỏ đen, biển số 60B9-027.69, tại thời điểm bị xâm hại ngày 23/8/2024, tài sản có giá trị là 1.500.000 đồng.
- 01 (một) con dao yếm, tại thời điểm bị xâm hại vào ngày 23/8/2024, tài sản có giá trị là 80.000 đồng.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
- 01 (một) con dao yếm có tổng chiều dài 55cm, phần cán bằng gỗ tròn dài 23cm, nơi rộng nhất 04cm, phần lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài 32cm, nơi rộng nhất 6,7cm, một bề sóng và một bề lưỡi, mũi dao nhọn, đã qua sử dụng.
- 172 (một trăm bảy mươi hai) buồng chuối gồm có 1.015 nải và 70 (bảy mươi) bắp chuối có khối lượng 80kg (Đã được xử lý bằng hình thức trả lại cho ông Đinh Văn H).
- 01 (một) chiếc xuồng composite, màu xanh, dài 4m, rộng 0,5m (Đã được xử lý bằng hình thức trả lại cho ông Đinh Văn H).
- 01 (một) con dao yếm có tổng chiều dài 39cm, phần cán bằng gỗ tròn dài 12cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 27cm, nơi rộng nhất 6,7cm, một bề sóng và một bề lưỡi, mũi dao nhọn, đã qua sử dụng (Đã được xử lý bằng hình thức trả lại cho ông Nguyễn Văn Đoàn E).
- 01 (một) con dao chét có tổng chiều dài 60cm, phần cán dao bằng gỗ tròn dài 30cm, lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài 30cm, mũi dao xéo nhọn, đã qua sử dụng (Đã được tịch thu tiêu hủy theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính).
- 08 (tám) cục đá không rõ hình dạng (Đã được tịch thu tiêu hủy theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính)
- 01 (một) con dao yếm có tổng chiều dài 72cm, phần cán bằng gỗ tròn dài 33cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 39cm, nơi rộng nhất 6,7cm, một bề sóng và một bề lưỡi, mũi dao nhọn, đã qua sử dụng (Đã được xử lý bằng hình thức trả lại cho ông Ngô Văn H2).
- 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Wave Trung Quốc, màu đỏ đen, biển số 60B9-027.69, đã qua sử dụng (Đã được xử lý bằng hình thức trả lại cho ông Đặng Thanh C).
Tại bản Cáo trạng số 01/CT-VKSUMT ngày 02/12/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Trung K về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trung K từ 09 - 12 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung do hoàn cảnh kinh tế khó khăn.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Đinh Văn H và Nguyễn Thị Hồng D yêu cầu bị cáo Nguyễn Trung K phải bồi thường thiệt hại với tổng số tiền là 11.390.000 đồng, trong đó, 440.000 đồng là số chuối bị thiệt hại vào ngày 20/7/2024, 1.250.000 đồng là số chuối và bắp chuối bị thiệt hại vào ngày 22/7/2024, 2.500.000 đồng là số tiền bán chuỗi vào ngày 18/8/2024 và 7.200.000 đồng là tiền thiệt hại từ 600 nải chuối đã nhận lại vào ngày 22/8/2024 sau đó không bán được và bị hư hỏng. Nhưng tại đơn xin vắng mặt tại phiên tòa ngày 12 tháng 12 năm 2024 bị hại Đinh Văn H và Nguyễn Thị Hồng D không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, nên miễn xét.
Bị hại Võ Văn V không yêu cầu bị cáo Nguyễn Trung K phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho Võ Văn V số tiền 320.000 đồng mà Võ Văn V đã bỏ ra mua 70 bắp chuối từ K, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy vật chứng: 01 (một) con dao yếm có tổng chiều dài 55cm, phần cán bằng gỗ tròn dài 23cm, nơi rộng nhất 04cm, phần lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài 32cm, nơi rộng nhất 6,7cm, một bề sóng và một bề lưỡi, mũi dao nhọn, đã qua sử dụng, do bị cáo Nguyễn Trung K dùng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc bị cáo Nguyễn Trung K giao nộp lại số tiền 320.000 đồng thu lợi bất chính từ việc bán 70 bắp chuối (tài sản trộm cắp) cho Võ Văn V do Võ Văn V không yêu cầu bị cáo Nguyễn Trung K khắc phục lại số tiền trên, để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh Thượng đã truy tố. Bị cáo không ý kiến tranh luận
Tại phần nói lời sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện U, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện U, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi bị truy tố của bị cáo: Trong quá trình điều tra, tại phiên tòa qua kết quả thẩm vấn, lời khai bị cáo, cùng các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ thể hiện:
Trong khoảng thời gian từ ngày 20/7/2024 đến ngày 22/8/2024, Nguyễn Trung K mang theo dao đi ra phần diện tích đất trồng chuối của vợ chồng ông Đinh Văn H, bà Nguyễn Thị Hồng D ở ấp K, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang, đến trộm chuối và bắp chuối, sau đó bán lấy tiền tiêu xài. Trong đó, lần thứ nhất vào ngày 20/7/2024 với trị giá tài sản xâm hại là 440.000 đồng, lần thứ hai vào ngày 22/7/2024 với trị giá tài sản xâm hại là 1.250.000 đồng, lần thứ ba vào ngày 24/7/2024 với trị giá tài sản xâm hại là 1.955.000 đồng, lần thứ tư vào ngày 17/8/2024 với trị giá tài sản xâm hại là 3.015.000 đồng, lần thứ năm từ ngày 21/8/2024 đến 22/8/2024 với trị giá tài sản xâm hại là 7.200.000 đồng.
Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 18/8/2024, Biên bản khám nghiệm hiện trường vào ngày 22 và ngày 23/8/2024 và các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, trị giá tài sản bị cáo xâm hại là 13.860.000 đồng, cho nên có đủ cơ sở kết luận. Bị cáo Nguyễn Trung K phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Vì mong muốn có tiền tiêu xài không phải lao động nặng nhọc bị cáo lén lút, lợi dụng vườn trồng chuối của bị hại không có người trông coi, bị cáo đã đốn buồng chuối, bắp chuối của bị hại đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân rất nhiều lần với tổng trị giá tài sản là 13.860.000 đồng.
Hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp thực hiện, thể hiện sự coi thường pháp luật, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang và dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, thể hiện sự tham lam, lười lao động, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của bị hại.
Do đó, cần xử bị cáo một mức án tương xứng với tính chất và hậu quả hành vi phạm tội, để có đủ thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt sống có ích cho xã hội, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời có tác dụng phòng ngừa chung trong xã hội.
Đối với hành vi bị tố giác của Nguyễn Trung K gồm lấy số tiền 2.500.000 đồng của ông Đinh Văn H , lấy 01 con dao của ông Ngô Văn H2 và 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 60B9-027.69 của ông Đặng Thanh C, do hành vi chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, nên cơ quan Cảnh sát điểu tra Công an huyện U đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự và chuyển Công an huyện U xử phạt vi phạm hành chính.
Về các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có tình tiết tăng nặng, là phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát huyện U Minh T1 về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Trung K từ 09 - 12 tháng tù là có căn cứ chấp nhận.
Bị cáo xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử ghi nhận và xem xét khi nghị án.
Về các vấn đề khác:
- Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Đinh Văn H, bà Nguyễn Thị Hồng D không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự nên không xem xét. Người liên quan Võ Văn V không yêu cầu bị cáo trả lại tiền đã mua bắp chuối, nên miễn xét.
Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, nghĩ nên tịch thu tiêu hủy vật chứng: 01 (một) con dao yếm có tổng chiều dài 55cm, phần cán bằng gỗ tròn dài 23cm, nơi rộng nhất 04cm, phần lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài 32cm, nơi rộng nhất 6,7cm, một bề sóng và một bề lưỡi, mũi dao nhọn, đã qua sử dụng, do bị cáo Nguyễn Trung K dùng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng.
Buộc bị cáo Nguyễn Trung K giao nộp lại số tiền 320.000 đồng thu lợi bất chính từ việc bán 70 bắp chuối (tài sản trộm cắp) cho Võ Văn V do Võ Văn V không yêu cầu bị cáo trả lại tiền, nên tịch thu sung ngân sách nhà nước
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trung K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điểm g khoản 1 Điều 52 Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trung K 09 ( chín ) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 29/8/2024.
Hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 173 BLHS đối với bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn .
3. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Đinh Văn H, bà Nguyễn Thị Hồng D không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự nên không xem xét. Người liên quan Võ Văn V không yêu cầu bị cáo trả lại tiền đã mua bắp chuối, nên miễn xét.
4. Biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xử tịch thu tiêu hủy vật chứng: 01 (một) con dao yếm có tổng chiều dài 55cm, phần cán bằng gỗ tròn dài 23cm, nơi rộng nhất 04cm, phần lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài 32cm, nơi rộng nhất 6,7cm, một bề sóng và một bề lưỡi, mũi dao nhọn, đã qua sử dụng, do bị cáo Nguyễn Trung K dùng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng. (Theo Quyết định chuyển giao vật chứng số: 01 ngày 02/12/2024 của Viện kiểm sát huyện U).
Buộc bị cáo Nguyễn Trung K giao nộp lại số tiền 320.000 đồng ( Ba trăm hai chục ngàn đồng chẳn) tiền thu lợi bất chính để tịch thu sung ngân sách nhà nước.
4. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo Nguyễn Trung K phải nộp án phí hình sự sơ thẩm số tiền là 200.000 đồng.
6. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận ( niêm yết) Bản án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- TAND tỉnh Kiên Giang;
- VKSND tỉnh Kiên Giang;
- VKSND huyện U Minh Thượng;
- Cơ quan điều tra Công an huyện U;
- Nhà tạm giữ Công an huyện U;
- Trại tạm giam;
- Sở tư pháp;
Nguyễn Tấn L
- Bị cáo;
- Bị hại;
- Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh Thượng;
- Lưu.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoàng K3; Trần Văn Tám Nguyễn Tấn L
TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện U Minh Thượng; - Cơ quan điều tra Công an huyện U Minh Thượng; - Nhà tạm giữ Công an huyện U Minh Thượng; - Trại tạm giam; - Sở tư pháp; - Bị cáo; - Bị hại; - Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh Thượng; - Lưu. | Nguyễn Tấn Lợi |