- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ Luật Tố tụng Hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2023/HS-ST Ngày: 29/8/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Diễm Châu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Thuỳ Trang
2. Ông Hồ Ngọc Thiện
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Mạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Võ Minh Quyên – Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 30/2023/TLST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn V T, sinh ngày: 20/5/2004; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 223 ấp B, xã BK, huyện C, Thành phố H; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 05/12; Con ông: Nguyễn Văn E, sinh năm: 1971; Con bà: Đỗ Thị M(đã chết); Anh, chị, em: có 1 người chị sinh năm 1996; Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/3/2023 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Ông Nguyễn Út N, sinh năm 1994 (vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ 19, ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê T T, sinh năm 1987 (vắng mặt).
Địa chỉ: 177 ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ông Nguyễn Văn C trú tại tổ 19, ấp A, xã T, huyện C là cha chồng của chị ruột bị cáo Tnên Tthường xuyên đến chơi và ngủ lại. Tbiết nhà ông Chàng ngày để xe máy có gắn sẵn chìa khóa trong sân không khóa cổng. Qua nhiều lần quan sát, đến ngày 12/3/2023, Tnảy sinh ý định trộm cắp tài sản nhà ông Cây. Tmượn xe của bạn là Nguyễn Hồ Thanh Bình chiếc xe Wave biển số: 59C2-513.48 để làm phương tiện đi đến nhà ông Cây. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 12/3/2023, Tđiều khiển chiếc xe máy đi từ xã Bình Khánh đến khu vực nhà ông Cây. Nhưng do còn sớm nên Tchạy xe lòng vòng chờ gia đình ông Cngủ để vào trộm cắp. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày Tghé vào hãng nước đá nơi làm việc của bạn Tlà Hà VănB H, lúc đóB H đang làm việc nên Tnằm nghỉ trên võng. Đến khoảng 02 giờ ngày 13/3/2023, Tđể xe máy của Bình tại chỗ Hiền rồi đi bộ đến nhà ông Cây. Tquan sát thấy mọi người trong nhà đã ngủ, cửa cổng chỉ khép không khóa nên dùng tay đẩy cửa ra rồi lén lút đột nhập vào trộm cắp 01 tông đơ hớt tóc và 01 xe máy Wave, biển số 59Z2-141.88 (trên xe có sẵn chìa khóa) của anh Nguyễn Út N (con trai ông Nguyễn Văn C). Tđẩy xe đi ra ngoài đường cách nhà ông Ckhoảng 200 mét rồi đề máy xe chạy đi cất giấu vào lùm cây. Sau đó Tđi bộ quay lại chỗB H và cất giấu cái tông đơ vào cốp xe biển số 59C2-513.48 rồi lên võng nằm ngủ. Đến khoảng 04 giờ 30 phút cùng ngày Tchạy chiếc xe biển số: 59C2-513.48 của Bình đến đậu bên hông tiệm bida (không rõ tên) trên địa bàn xã Tam Thôn Hiệp rồi đi bộ đến lấy chiếc xe biển số 59Z2-141.88 trộm cắp của Út Nghĩa đem đến tiệm sửa xe của anh Lê T T địa chỉ: 177 ấp Bình Thạnh, xã Bình Khánh nói với anh Toàn là xe của Tđã bị mất giấy tờ và anh Toàn mua với giá 3.000.000 đồng. Sau khi bán xe Tđi xe buýt quay lại lấy xe biển số: 59C2-513.48 để về trả cho anh Bình thì gặp ông Cvà anh N. Do nghi ngờ Tlà người trộm cắp xe nên anh Nvà ông Cyêu cầu cùng đến Công an xã để làm rõ. Tại Cơ quan Công an Nguyễn V T đã thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 05/KL – HĐĐGTS ngày 14/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cần Giờ xác định chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu xanh, biển số: 59Z2-141.88 có giá trị thành tiền là 4.620.000 đồng. Riêng chiếc tông đơ dùng để cắt tóc, hiệu Wahl không đủ thông tin để định giá.
- Về vật chứng thu giữ:
+ 01 chiếc xe máy Honda, loại Wave, màu xám, biển số: 59C2-513.48.
+ 01 chiếc xe máy Honda, loại Wave, màu xanh, biển số: 59Z2-141.88.
+ 01 cái ví da màu đen, bên trong có 3.900.000 đồng.
+ 01 cái tông đơ dùng để cắt tóc, hiệu Wahl.
+ 01 điện thoại di động hiệu Realme màu đen, ốp lưng màu hồng.
Tại bản cáo trạng số 25/CT-VKS ngày 25/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn V T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 65; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn V T mức án từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách đến 01 năm 06 tháng.
Đối với vật chứng vụ án: 01 chiếc xe máy Honda, loại Wave, màu xám, biển số: 59C2-513.48 là tài sản của anh Nguyễn Hồ Thanh Bình, anh Bình không biết Tmượn xe sử dụng vào việc trộm cắp nên quá trình điều tra đã trả lại cho anh Bình; 01 chiếc xe máy Honda, loại Wave, màu xanh, biển số: 59Z2-141.88; 01 cái tông đơ dùng để cắt tóc, hiệu Wahl là tài sản của anh Nguyễn Út N, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Nghĩa; 01 cái ví da màu đen, bên trong có 3.900.000 đồng, trong đó có 3.000.000 đồng là tiền bán xe cho anh Lê T T, đã trả lại cho anh Lê T T. Còn lại 900.000 đồng cùng ví da màu đen và điện thoại di động là tài sản cá nhân của Nguyễn V T không liên quan đến vụ án đã trả lại cho Nguyễn V T. Toàn bộ vật chứng cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Cần Giờ xử lý đúng quy định pháp luật nên không đề nghị xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: anh Nguyễn Út N, anh Lê T T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề nghị xem xét.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trong bản Cáo trạng; đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm; đồng thời bị cáo cho rằng mình không bị oan và bị cáo có lời nói sau cùng đã đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để tạo điều kiện cho bị cáo sớm hòa nhập với cộng đồng và làm người có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cần Giờ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn V T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 13/3/2023, Nguyễn V T lợi dụng sự sơ gở, mất cảnh giác của gia đình ông Nguyễn Văn C khi đi ngủ để xe máy gắn sẵn chìa khóa nhưng không khóa cửa hàng rào nên bị cáo đã lén lút, bí mật lẻn vào nhà ông Cđể trộm cắp 01 xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave màu xanh biển số: 59Z2-141.88 và 01 cái tông đơ hớt tóc của anh Nguyễn Út N. Tài sản định giá là chiếc xe máy có giá trị thành tiền là 4.620.000 đồng, riêng 01 cái tông đơ hớt tóc không có cơ sở để định giá. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Bản cáo trạng số 19/CT-VKS ngày 15/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn V T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ phạm tội:
Bị cáo là người có đủ năng lực để nhận thức được việc lấy trộm tài sản của người khác là hành vi vi phạm pháp luật và là tội phạm. Nhưng do bị cáo muốn chiếm đoạt tài sản của người khác bán lấy tiền chi xài cá nhân nên bị cáo đã bất chấp pháp luật, xem thường tình cảm gia đình mặc dù tài sản trên là của nhà chồng của chị ruột bị cáo mà cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự tại địa phương, gây hoang mang lo lắng trong nhân dân. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, vì vậy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra để giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định trong Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản đã thu hồi và trả lại cho chủ sở hữu nên gây thiệt hại không lớn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là anh Nguyễn Út N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê T T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xử lý vật chứng: Thống nhất quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về xử lý vật chứng cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Cần Giờ theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Đối với anh Lê T T khi mua xe do Nguyễn V T bán nhưng không biết xe là do trộm cắp mà có, nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra không xử lý là đúng quy định.
Về án phí: bị cáo không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm do thuộc hộ cận nghèo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn V T: 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn V T cho Ủy ban nhân dân xã Bình Khánh, huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
[2] Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ Luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo được miễn án phí theo luật định.
[3] Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Đối với đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hợp lệ.
[4] Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014. Nôi nhaän:
| - Bị cáo; - Người bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Công an huyện Cần Giờ; - VKSND huyện Cần Giờ; - Chi cục THADS huyện Cần Giờ; - Sở Tư pháp TP HCM; - Lưu HS, VP; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Diễm Châu |