vanban.org

Bản án 28/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về ngoại tình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Tạ Thị D là được ly hôn với anh Nguyễn Xuân Đ.

Về nuôi con chung: Giao hai con chung là Nguyễn Xuân Đ, sinh ngày 28/9/2017 và Nguyễn Thúy V, sinh ngày 14/11/2018 cho chị D được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến lúc các con chung đến tuổi trưởng thành đủ 18 tuổi. Tạm hoãn việc đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về ngoại tình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Tạ Thị D là được ly hôn với anh Nguyễn Xuân Đ.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình và Nghị; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHĨA ĐÀN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2023/HNGĐ – ST
Ngày 02/06/2023
V/v “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Anh Xuân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Thảo và bà Nguyễn Thị Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lan – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn. Tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 02 tháng 6 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 18/2023/TLST – HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2023/QĐST - HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2023/QĐST – HNGĐ ngày 18 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Tạ Thị D – sinh năm 1999. (Có mặt tại phiên tòa).

Địa chỉ: Xóm Đồng A, xã Nghĩa H, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân Đ – sinh năm 1993. (Vắng mặt tại phiên tòa).

Địa chỉ: Xóm Đồng A, xã Nghĩa H, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Tạ Thị D trình bày: Chị và anh Nguyễn Xuân Đ có đăng ký kết hôn vào ngày 08 tháng 9 năm 2017 tại UBND xã Nghĩa H, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc với nhau được khoảng thời gian ngắn thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do bất đồng quan điểm sống, do cuộc sống kinh tế có nhiều khó khăn nên anh Đ thường đi làm ăn xa nhưng lại không có trách nhiệm chăm lo cho gia đình. Chị D đã nhiều lần khuyên nhủ anh Đ nhưng vẫn không thay đổi. Do cuộc sống gia đình không có hạnh phúc nên chị D về bên ngoại sống và anh chị sống ly thân nhau đến nay đã khoảng bốn năm. Trong thời gian sống ly thân cho đến nay không ai quan tâm, hỏi han gì đến nhau. Nay xét thấy cuộc hôn nhân không có hạnh phúc, tình cảm không còn nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị D yêu cầu được giải quyết ly hôn với anh Đ.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Xuân Đ, sinh ngày 28/9/2017 và Nguyễn Thúy V, sinh ngày 14/11/2018. Nếu ly hôn chị D có nguyện vọng được nuôi cả hai con vì từ khi anh chị sống ly thân đến nay các con ở cùng với chị đã quen với môi trường và nếp sinh hoạt, chị không yêu cầu anh Đ có nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Nguyễn Xuân Đ: Quá trình nộp hồ sơ tại Tòa án, chị D đã gửi cho anh Đ đơn xin ly hôn và các tài liệu, chứng cứ kèm theo. Tòa án cũng đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập đương sự, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ cho anh Đ nhưng anh Đ vẫn cố tình không hợp tác, không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay anh Đ vẫn không có mặt. Vì vậy, Tòa án căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết vắng mặt anh Đ.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

Về trình tự tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng, ban hành các quyết định đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã làm đúng trình tự thủ tục tố tụng. Nguyên đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Bị đơn đã được Tòa án tống đạt các giấy tờ hợp lệ nhưng vẫn cố tình không chấp hành.

Về việc giải quyết vụ án đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của chị Tạ Thị D là được ly hôn với anh Nguyễn Xuân Đ. Về con cái: Giao các con chung Nguyễn Xuân Đ, sinh ngày 28/9/2017 và Nguyễn Thúy V, sinh ngày 14/11/2018 cho chị D được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến lúc con chung đủ tuổi trưởng thành. Tạm hoãn việc đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Đ do chị D không yêu cầu. Về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và đương sự có mặt tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

1. Về thẩm quyền giải quyết: Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết yêu cầu của chị Tạ Thị D.

2. Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Xuân Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Đ theo quy định tại Điều 227 và 228 – Bộ luật tố tụng dân sự.

3. Về quan hệ hôn nhân: Chị Tạ Thị D và anh Nguyễn Xuân Đ có mối quan hệ hôn nhân hoàn toàn tự nguyện và hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc với nhau được khoảng thời gian ngắn thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do bất đồng quan điểm sống, không có trách nhiệm với gia đình và chia sẻ khó khăn với nhau nên anh chị đã sống ly thân đến nay khoảng bốn năm. Trong thời gian sống ly thân thì hai bên cũng không liên lạc hỏi thăm và quan tâm gì đến nhau, điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên cần phải chấp nhận yêu cầu của chị Tạ Thị D là được ly hôn với anh Nguyễn Xuân Đ.

4. Về quan hệ con chung: Chị D và anh Đ có hai con chung là Nguyễn Xuân Đ, sinh ngày 28/9/2017 và Nguyễn Thúy V, sinh ngày 14/11/2018. Nguyện vọng của chị D là được nuôi cả hai con con và không yêu cầu anh Đ phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. Xét nguyện vọng của chị D là hoàn toàn phù hợp vì từ khi anh chị sống ly thân đến nay các cháu ở cùng với chị, anh Đ đi làm ăn xa nên thường xuyên vắng nhà và cũng không có trách nhiệm chăm lo cho con chung. Do vậy, để đảm bảo được các điều kiện chăm sóc tốt nhất nên cần giao con chung cho chị D được trực tiếp nông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con chung thì chị D không yêu cầu nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Đ.

5. Về quan hệ tài sản: Chị D không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

6. Về án phí: Chị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 28, Điều 35, điều 147, Điều 227 và 228 – Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56, 71, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Tạ Thị D là được ly hôn với anh Nguyễn Xuân Đ.

2. Về nuôi con chung: Giao hai con chung là Nguyễn Xuân Đ, sinh ngày 28/9/2017 và Nguyễn Thúy V, sinh ngày 14/11/2018 cho chị D được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến lúc các con chung đến tuổi trưởng thành đủ 18 tuổi. Tạm hoãn việc đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Đ do chị D không yêu cầu; Anh Đ có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.

Vì lợi ích mọi mặt của con chung, khi có căn cứ theo quy định của pháp luật hoặc có lý do chính đáng, theo yêu cầu của một hoặc các bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Chị D không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Tạ Thị D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Chị D đã nộp đủ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đống) tại biên lai thu tiền số 0005982 ngày 06 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Đàn.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ