vanban.org

Bản án 28/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về ngoại tình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về ngoại tình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÀU BÀNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 02-6-2023
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Khoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Long Giang;

Ông Nguyễn Văn Hòa.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Diễm T – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Võ Thanh Huyền – Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 49/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2023 về Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2023/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Quang S, sinh năm 1985; nơi cư trú: khu phố X M, thị trấn L U, huyện B, tỉnh B D, vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thảo T, sinh năm 1984, sinh năm 1963; nơi cư trú: khu phố X M, thị trấn L U, huyện BB, tỉnh B; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Nguyễn Quang S trình bày:

Về hôn nhân: ông Nguyễn Quang S và bà Nguyễn Thảo T tự nguyện tìm hiểu, tự nguyện tiến tới hôn nhân. Bà T và ông S có đăng ký kết hôn tại UBND xã Lai Uyên, huyện Bến Cát (nay là thị trấn Lai Uyên, huyện Bàu Bàng), tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 18, quyển số 01/2006 vào ngày 09-3-2006.

Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến khoảng năm 2019, bà T và ông S bắt đầu xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng không có tiếng nói chung về nuôi dạy con và kinh tế gia đình. Vợ chồng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau mà bản thân mỗi người tự lo cho riêng. Năm 2020, bà T và ông S không còn chung sống với nha cho đến nay. Bà T và ông S không còn quan tâm, chăm sóc cho nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông S yêu cầu được ly hôn với bà T.

Về con chung: vợ chồng có 01 con chung: Nguyễn Bá Th, sinh ngày 02 tháng 9 năm 2005. Hiện nay, con chung đang ở với ông S, ông S yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được nuôi con chung không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: Ông S không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình tố tụng, bị đơn bà Nguyễn Thảo T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do và không có ý kiến trả lời bằng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn.

Theo biên bản xác minh ngày 06 tháng 3 năm 2023, Công chức Tư pháp thị trấn Lai Uyên cung cấp như sau: bà Nguyễn Thảo T và ông Nguyễn Quang S quá trình chung sống tại địa phương có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân như thế nào thì địa phương không có thông tin do ông bà không nhờ địa phương hoặc tổ chức đoàn thể can thiệp giải quyết theo quy định.

Đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Tính đến ngày Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử, vụ án còn trong thời hạn chuẩn bị xét xử theo điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương nhận định:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết: Ông Nguyễn Quang S khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thảo T nên đây là quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp ly hôn. Bị đơn bà Nguyễn Thảo Tcó đăng ký hộ khẩu thường trú tại khu phố X M, thị trấn L U, huyện B B, tỉnh B nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện BB, tỉnh B D theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về tố tụng: Nguyên đơn ông Nguyễn Quang S có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn bà Nguyễn Thảo T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do là chưa thực hiện đúng quy định về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Quang S và bà Nguyễn Thảo T có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn LU, huyện B B, tỉnh B D theo Giấy chứng nhận kết hôn số số 18, quyển số 01/2006 vào ngày 09-3-2006 nên đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Ông S yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với bà T do ông S và bà T đều không quan tâm đến gia đình, chăm sóc lẫn nhau, nuôi dạy con, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cải vã. Từ năm 2020, bà T và ông S không còn chung sống với nhau cho đến nay, không quan tâm đến nhau và không có biện pháp hàn gắn cuộc sống hôn nhân. Hơn nữa, quá trình tố tụng, bà T được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, bỏ mặc không tham gia tố tụng, không trình bày ý kiến tại Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của ông S. Xét thấy, ông S và bà T là vợ chồng nhưng không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không sống chung với nhau là không thực hiện đúng nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình. Nhận thấy tình trạng hôn nhân của ông S và bà T phù hợp với kết quả xác minh địa phương; vợ chồng không quan tâm đến nhau và không có biện pháp hàn gắn cuộc sống hôn nhân nên yêu cầu khởi kiện của ông S xin ly hôn với bà T là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: ông S yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Bá Th, sinh ngày 02 tháng 9 năm 2005. Quá trình tham gia tố tụng, bà T không có văn bản trình bày ý kiến về việc nuôi con, cấp dưỡng cho con. Xét thấy, cháu Th có nguyện vọng được ở với ông S và cháu Th đang sống chung với ông S. Ông S có công việc, thu nhập ổn định và đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con nên giao cháu Th cho ông S trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung, nợ chung: các đương sự không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Quang S đối với bị đơn bà Nguyễn Thảo T về việc ly hôn.

- Về quan hệ hôn nhân: cho ly hôn giữa ông Nguyễn Quang S và bà Nguyễn Thảo T.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Bá Th, sinh ngày 02 tháng 9 năm 2005 cho ông Nguyễn Quang S được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Ông S không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.

Vì quyền và lợi ích hợp pháp của con chung, Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật

- Về chia tài sản chung, nợ chung: các đương sự không tranh chấp về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

2. Về án phí sơ thẩm: Ông Nguyễn Quang S phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0009667 ngày 23 tháng 02 năm 2023 Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.

3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ