vanban.org

Bản án 28/2022/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 22/03/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Vũ Tiến T, Nguyễn Thị T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Tiến T, Nguyễn Thị T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” - ph…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Vũ Tiến T, Nguyễn Thị T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2022/HS-ST
Ngày: 22/03/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Xuân Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Lâm.

2. Ông Nguyễn Văn Kỹ

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Hải – Thư ký TAND tỉnh Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quân - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 03 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 138/2021/TLST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2022/QĐXXST-HS ngày 10/01/2022 đối với các bị cáo:

1. Vũ Tiến T, sinh năm 1990; Nơi ĐKHKTT: Tổ 4, khu 2, phường Q, Q. H, TP Hải Phòng; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Vũ Tiến T, sinh năm: 1967 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1969; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Có vợ và đã ly hôn - Hiện sống C với Hoàng Thị N, sinh năm 1989 (không đăng ký kết hôn); Con: có 01 con sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam giam từ ngày 08/9/2021đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh; có mặt.

2. Nguyễn Văn C, sinh năm 1985; Nơi ĐKHKTT: thôn T, xã Đ, huyện S, TP Hà Nội; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Nguyễn Văn D, sinh năm: 1962 và bà Nguyễn Thị X, sinh năm: 1962; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân:

+ Ngày 08/5/2007, Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm xử phạt 24 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng theo khoản 1 Điều 245 BLHS 1999.

+ Ngày 30/6/2009, Toà án nhân dân huyện S, TP Hà Nội xử phạt 07 tháng tù về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 248 BLHS 1999.

+ Ngày 21/9/2016, Toà án nhân dân huyện S xử phạt 05 tháng tù về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 248 BLHS 1999.

+ Ngày 11/01/2017, Toà án nhân dân huyện S xử phạt 09 tháng tù về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản theo khoản 1 Điều 143 BLHS 1999, đã chấp hành xong bản án ngày 08/12/2017.

+ Ngày 27/10/2021, Cơ quan CSĐT Công an TP Hà Nội khởi tố về tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, theo Điều 304 BLHS.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam giam từ ngày 08/9/2021 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh; có mặt.

3. Nguyễn Thị T, sinh năm 1992; Nơi ĐKHKTT: thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông Nguyễn Văn M, sinh năm: 1969 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1974; Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ nhất; Chồng: Nguyễn Đức A, sinh năm 1988, (đã ly hôn); Con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam giam từ ngày 08/9/2021 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh; có mặt.

2.2. Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Tiến Đ, sinh năm 1996; HKTT: khu phố Đ, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.

2. Anh Chu Năng T, sinh năm 1998; HKTT: Số 131, ngõ 2 đường T, phường Đ, thành phố T, tỉnh B; vắng mặt.

3. Anh Đinh Minh H, sinh năm 2000; HKTT: Khu phố Đ, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt

4. Anh Ngô Minh C, sinh năm 1982; HKTT: Đ, phường C, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23h00’ ngày 07/9/2021, Phòng CSĐT tội phạm về ma túy Công an tỉnh Bắc Ninh (PC04) phối hợp với Công an phường Tân Hồng, thị xã Từ Sơn (nay là thành phố Từ Sơn), tỉnh Bắc Ninh kiểm tra khách sạn Đại Dương ở khu đô thị Bắc Từ Sơn, phường T, TP Từ Sơn do Đàm Tiến Đạt sinh năm 1996, trú tại khu phố Đại Đình, phường T, TP Từ Sơn làm chủ khách sạn, Chu Năng Tuấn, sinh năm 1989 và Đinh Minh Hải sinh năm 2000 làm quản lý. Tại đây, tổ công tác đã phát hiện tại các phòng khách sạn có các đối tượng đang có hành vi sử dụng, tàng trữ trái phép chất ma túy, cụ thể:

* Tại phòng 501: Do Nguyễn Văn C, sinh năm 1985 trú tại thôn T, xã Đ, huyện S, TP Hà Nội là người thuê phòng để tổ chức sinh nhật và 16 đối tượng gồm: Bùi Phương T, sinh ngày 28/4/2003; Nguyễn Thị Bích P, sinh ngày 21/12/2007; Nguyễn Thị H, sinh ngày 06/12/2004; Bàn Thị T, sinh năm 1996; Vũ Thị N, sinh năm 2001; Đặng Phương D, sinh năm 2001; Hà Thị L, sinh năm 1998; Đặng Thị H, sinh năm 1993; Trần Văn D, sinh năm 1990, Ưng Sỹ D, sinh năm 1994; Tạ Hồng S, sinh năm 1997; Nguyễn Văn H, sinh năm 1993; Nguyễn Văn T, sinh năm 1993; Vương Thị Hoàng Y, sinh năm 2002; Nguyễn Minh T, sinh năm 2000; Trịnh Thị Lâm O, sinh năm 1999. Thu giữ trong phòng 501 gồm:

- Tại mặt ghế: 01 đĩa sứ màu trắng, trên mặt đĩa sứ có chất bột màu trắng và 01 thẻ nhựa. Chất bột màu trắng cho vào túi nilon niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M1.

- Tại giữa khe của hai đệm dưới đất: 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất tinh thể màu trắng niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M2.

- 01 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ nhựa niêm phong trong hộp giấy ký hiệu M3.

- Tạm giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus bị vỡ màn hình lắp sim số 0925.038.386 của C.

Cơ quan điều tra tiến hành test để kiểm tra đối với 17 đối tượng kết quả đều dương tính với chất ma túy.

* Tại phòng 602: Do Nguyễn Thị T, sinh năm 1992, trú tại thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh là người thuê phòng để nghỉ cùng với các đối tượng gồm: Vũ Công V, sinh năm 1999; Nguyễn Thị T, sinh năm 1996; Nguyễn Trung A, sinh năm 1994; Phùng Thị Diễm Q, sinh năm 2002. Thu giữ trong phòng 602 gồm:

- Tại mặt bàn trang điểm: 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất tinh thể màu trắng và 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 07 viên nén màu xanh. Niêm trong phong bì thư ký hiệu P602A.

- Tại mặt chiếc đệm: 01 đĩa sứ màu trắng bám dính chất tinh thể màu trắng và 01 thẻ nhựa màu xanh. Niêm phong vào hộp giấy ký hiệu P602B.

Cơ quan điều tra tiến hành test để kiểm tra đối với T , Vũ, Tâm và Quỳnh kết quả đều dương tính với chất ma túy.

* Tại phòng 703: Do Vũ Tiến T, sinh năm 1990 trú tại tổ 4, khu 2, phường Q, quận H, TP Hải Phòng thuê phòng để nghỉ phát hiện thu giữ:

- Tại túi quần trước bên phải T đang mặc: 01 gói bằng tờ tiền mệnh giá 5.000đ bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. Niêm phong vào 01 phong bì thư.

- Tại túi giả da của T: 02 túi nilon màu trắng trong chứa chất tinh thể màu trắng, 01 túi nilon màu trắng trong chứa các viên nén màu hồng. Niêm phong vào 01 hộp giấy.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 có lắp màu vàng lắp sim số 0782.005.346, 01 cân tiểu ly màu trắng, 01 túi giả da của T .

Cơ quan điều tra tiến hành test để kiểm tra đối với T kết quả dương tính với chất ma túy.

Trên cơ sở Quyết định trưng cầu giám định của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Ninh, ngày 10/9/2021 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh đã ban hành Bản kết luận giám định số 613/KLGĐMT- PC09 Kết luận:

- Chất tinh thể màu trắng bên trong 01 (một) phong bì thư (không ký hiệu) gửi giám định có khối lượng 1,1135 gam; Là ma túy: Loại ma túy: Ketamine;

- Chất tinh thể màu trắng (trong túi thứ nhất) bên trong 01 (một) hộp giấy (không ký hiệu) gửi giám định có khối lượng 88,3894 gam; Là ma túy: Loại ma túy: Ketamine;

- Chất tinh thể màu trắng (trong túi thứ hai) bên trong 01 (một) hộp giấy (không ký hiệu) gửi giám định có khối lượng 20,9863 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Ketamine.

- Các viên nén màu hồng bên trong 01 (một) hộp giấy (không ký hiệu) gửi giám định có khối lượng 1,8302 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine.

- Chất tinh thể màu trắng bên trong 01 (một) phong bì thư ký hiệu P602A gửi giám định có khối lượng 1,3719 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Ketamine;

- Các viên nén hình tam giác màu xanh bên trong 01 (một) phong bì thư ký hiệu P602A gửi giám định có khối lượng 2,5181 gam; Là ma túy; Loại ma túy: MDMA;

- Chất tinh thể màu trắng bám dính trên đĩa sứ bên trong 01 (một) hộp giấy ký hiệu P602B gửi giám định có khối lượng 0,0098 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Ketamine.

- Chất tinh thể màu trắng bên trong 01 (một) phong bì ký hiệu M1 gửi giám định có khối lượng 1,3439 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Ketamine.

- Chất tinh thể màu trắng bên trong 01 (một) phong bì ký hiệu M2 gửi giám định có khối lượng 1,7873 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Ketamine.

- Chất tinh thể màu trắng bám dính trên đĩa sứ trong 01 (một) hộp giấy ký hiệu M3 gửi giám định có khối lượng 0,0081 gam; Là ma túy; Loại ma túy Ketamine.

Methamphetamine, Ketamine, MDMA là các chất ma túy được quy định tại Nghị định số 73/2018/NĐ – CP, ngày 15/5/2018 của Chính Phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất. (BL 28, 29).

Căn cứ vào lời khai của các bị cáo, các chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra thu thập trong hồ sơ vụ án xác định:

1. Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn C:

Vào khoảng 21h ngày 07/9/2021, sau khi ăn uống tại huyện S, huyện Đ, TP Hà Nội thì Nguyễn Văn C rủ nhóm bạn đến thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh với mục đích cắt, ăn bánh gatô để tiếp tục chúc mừng sinh nhật mình. Khi đến khách sạn Đại Dương, C đã gặp anh Chu Năng T là nhân viên khách sạn Đại Dương thuê 01 phòng, anh Tuấn đã đưa chìa khoá và dẫn nhóm của C lên phòng 501. Sau khi mọi người vào phòng thì C cắt bánh gatô cho mọi người ăn, tiếp theo C bỏ 06 viên ma tuý kẹo mang sẵn từ trước ra để trên bàn bảo “ai dùng thì dùng”, còn C bỏ ra ma tuý ke ra đổ vào đĩa, dùng thẻ nhựa sào ma tuý rồi dùng tờ tiền mệnh giá 50.000đ quấn thành ống hút sử dụng bằng cách hít ma túy qua ống hút bằng mũi. Khi C sử dụng ma tuý xong, C tiếp tục để đĩa ma tuý ke xuống bàn đồng thời bảo “ai dùng thì dùng”. Thấy C nói vậy mọi người trong phòng đều sử dụng ma tuý bằng hình thức ma tuý kẹo thì uống trực tiếp với nước cocacola, còn ma tuý ke thì sử dụng bằng cách hít vào mũi. Khi các đối tượng vừa sử dụng xong, đang ngồi nói chuyện thì bị lực lượng công an kiểm tra, thấy vậy nên C đã lấy túi ma tuý ke còn thừa ở trong túi vứt xuống giữa khe của hai đệm dưới đất. Sau đó Cơ quan công an đã thu giữ số ma tuý này và lập biên bản (BL 18, 19).

- Các đối tượng Bàn Thị T, Bùi Phương T, Nguyễn Thị H, Vũ Thị N, Đặng Phương D, Hà Thị L, Đặng Thị H, Nguyễn Thị Bích P, Trần Văn D, Ưng Sỹ Diện, Tạ Hồng Sơn, Nguyễn Văn Huân, Nguyễn Văn Toàn, Vương Thị Hoàng Y, Nguyễn Minh T, Trịnh Thị Lâm O đều khai nhận: Khoảng 22h ngày 07/9/2021 đến Phòng 501 khách sạn Đại Dương để mừng sinh nhật của C, khi tổ chức sinh nhật thì C bỏ ma túy ra đĩa sào ke và dùng tờ tiền loại mệnh giá 50.000đ quấn thành ống hút và mời mọi người cùng sử dụng ma túy, một lúc sau thì lực lương Công an vào bắt quả tang thu giữ ma túy trên đĩa và ở giữa khe của hai đệm dưới đất, niêm phong ma túy và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Quá trình điều tra C khai nhận: Số ma túy ke, kẹo trên do bạn quen biết xã hội tên là Tuấn quê ở tỉnh Vĩnh Phúc, nhưng không rõ họ tên, tuổi địa chỉ tặng sinh nhật C chiều ngày 07/9/2021, sau đó C mang theo ma túy được tặng và mời các đối tượng trên đến thuê Phòng 501 khách sạn Đại Dương để tổ chức sinh nhật C. Khi tổ chức sinh nhật thì C bỏ ma túy ra, lấy tờ tiền mệnh giá 50.000đ quấn thành ống hút, lấy 01 thẻ nhựa và 01 đĩa sứ có sẵn ở phòng, C cho ma túy vào đĩa để trên mặt bàn sào ke và sử dụng bằng cách hít ma túy qua ống hút bằng mũi và mời mọi người cùng sử dụng ma túy trên đĩa, số ma túy thu giữ ở giữa khe của hai đệm dưới đất là ma túy của C mang đi chưa kịp sử dụng, khi thấy Công an vào nên C vứt xuống khe giữa của hai đệm dưới đất, thì bị Công an thu giữ, số ma túy này nếu lực lượng Công an không vào bắt thì C cũng bỏ ra để sử dụng và mời mọi người cùng sử dụng như trên. (BL 239, 240, 247, 248).

2. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Nguyễn Thị T:

Khoảng 22h30’ ngày 07/9/2021, Nguyễn Thị T và nhóm bạn gồm Vũ Công Vũ, Nguyễn Thị Tâm, Phùng Thị Diễm Quỳnh vào khách sạn Đại Dương gặp Chu Năng Tuấn để thuê phòng 602 để nghỉ. Sau khi lên phòng, T đã lấy trong người 01 gói ma tuý ke và 01 gói ma tuý kẹo để trên bàn trang điểm, rồi lấy 01 viên ma tuý kẹo ra bẻ làm đôi lấy một nửa sử dụng với nước lọc, còn ma tuý ke T lấy một ít cho vào đĩa nhựa có sẵn trong phòng nhưng chưa kịp sử dụng. Lúc này Nguyễn Trung Anh là bạn của T lên phòng chơi, nên T và Trung Anh đang ngồi nói chuyện. Một lúc sau thì lực lượng Công an vào kiểm tra phát hiện thu giữ số ma túy trên.

Tại cơ quan điều tra Vũ Công V, Nguyễn Thị T, Phùng Thị Diễm Q, Nguyễn Trung A đều khai nhận không sử dụng ma túy với T và không biết T bỏ ma tuý ra khi nào.

Quá trình điều tra Nguyễn Thị T khai nhận: Số ma túy ke, kẹo trên là T mua từ sáng ngày 07/9/2021 tại bến xe Từ Sơn của người không quen biết với giá 7.000.000đ và vẫn để trong người. Sau khi, đi lễ chùa ở tỉnh Lạng Sơn cùng với Vũ, Tâm và Diễm, đến chiều ngày 07/9/2021 T về thuê Phòng 602 khách sạn Đại Dương để nghỉ, khi vào phòng thì T bỏ ma túy lên mặt bàn trang điểm, rồi lấy 01 viên ma túy để ra và dùng tay bẻ lấy một nửa viên ma túy uống với nước lọc, còn một nửa viên ma túy T để vào đĩa trên đệm, những người đi cùng đều không biết T tàng trữ và sử dụng chất ma túy.

3. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Vũ Tiến T:

Khoảng 20h’ ngày 07/9/2021, Vũ Tiến T đến khách sạn Đại Dương gặp anh Chu Năng T để thuê phòng nghỉ, sau đó Tuấn đã bố trí cho T phòng 703 để nghỉ. Khi T đang ngủ thì lực lượng Công an kiểm tra thu giữ tại túi quần trước bên phải T đang mặc 01 gói bằng tờ tiền mệnh giá 5.000đ bên trong chứa ma tuý ke và 02 túi nilon ma tuý ke, 01 túi nilon ma tuý kẹo. Số ma túy ke, ngựa bị thu giữ trên là của T , do T mua của người không quen biết trưa ngày 07/9/2021 tại khu vực đường tàu thuộc phường C, quận L, TP Hải Phòng với giá 15.000.000đ với mục đích để sử dụng cho bản thân chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện thu giữ.

* Về vật chứng:

- 01 phong bì thư ký hiệu H1; 03 hộp giấy ký hiệu H2, H3, H4 mẫu vật hoàn lại sau giám định niêm phong có dấu, chữ ký của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 lắp sim số 0782.005.346; 01 cân tiểu ly màu trắng, 01 túi giả da của T và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus bị vỡ màn hình lắp sim số 0925.038.386 của C.

Tại Bản Cáo trạng số: 155/CT-VKS-P1 ngày 30/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố các bị cáo Vũ Tiến T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự; Nguyễn Văn C về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; Nguyễn Thị T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội mình như Cáo trạng đã quy kết. Bị cáo Nguyễn Văn C khai số ma túy trên là do của một người bạn xã hội tên Tuấn, quê ở Vĩnh Phúc nhưng không rõ họ tên, địa chỉ tặng sinh nhật. Sau đó C thuê phòng 501 khách sạn Đại Dương và cùng các đối tượng khác tổ chức sinh nhật. Khi tổ chức sinh nhật thì C bỏ ma túy ra, lấy tờ tiền mệnh giá 50.000đ quấn thành ống hút, lấy 01 thẻ nhựa và 01 đĩa sứ có sẵn ở phòng, C cho ma túy vào đĩa để trên mặt bàn sào ke và sử dụng bằng cách hít ma túy qua ống hút bằng mũi và mời mọi người cùng sử dụng ma túy trên đĩa, số ma túy thu giữ ở giữa khe của hai đệm dưới đất là ma túy của C mang đi chưa kịp sử dụng, khi thấy Công an vào nên C vứt xuống khe giữa của hai đệm dưới đất. Bị cáo Nguyễn Thị T khai: Số ma túy ke, kẹo trên là T mua từ sáng ngày 07/9/2021 tại bến xe Từ Sơn của người không quen biết với giá 7.000.000đ và vẫn để trong người. Sau khi, đi lễ chùa ở tỉnh Lạng Sơn cùng với V, T và D, đến chiều ngày 07/9/2021 T về thuê Phòng 602 khách sạn Đại Dương để nghỉ, khi vào phòng thì T bỏ ma túy lên mặt bàn trang điểm, rồi lấy 01 viên ma túy để ra và dùng tay bẻ lấy một nửa viên ma túy uống với nước lọc, còn một nửa viên ma túy T để vào đĩa trên đệm, những người đi cùng đều không biết T tàng trữ và sử dụng chất ma túy. Bị cáo Vũ Tiến T Khai: Số ma túy ke, ngựa bị thu giữ trên là của T, do T mua của người không quen biết trưa ngày 07/9/2021 tại khu vực đường tàu thuộc phường Cát Dài, quận Lê Chân, TP Hải Phòng với giá 15.000.000đ với mục đích để sử dụng cho bản thân chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện thu giữ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội giữ nguyên Cáo trạng truy tố; sau khi phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị HĐXX tuyên bố các bị cáo Vũ Tiến T, Nguyễn Thị T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”

Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Vũ Tiến T từ 10 năm tù đến 11 năm tù.

Áp dụng điểm b, điểm c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Văn C từ 7 năm 6 tháng tù đến 8 năm 6 tháng tù.

Áp dụng điểm i khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Thị T từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị HĐXX miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Về vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) Phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định, niêm phong còn nguyên vẹn. Một mặt ghi chữ: Kính gửi cơ quan CSĐT (PC04) – Công an tỉnh Bắc Ninh. Mẫu vật còn lại sau giám định kèm theo KLGĐ số 613/KLĐGMT-PC09 ghi ngày 19/10/2021 phòng PC09, ký hiệu H1;

+ 01 (một) Hộp giấy đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định, niêm phong còn nguyên vẹn. Một mặt ghi chữ: Kính gửi cơ quan CSĐT (PC04) – Công an tỉnh Bắc Ninh. Mẫu vật còn lại sau giám định kèm theo KLGĐ số 613/KLGĐMT-PC09 ghi ngày 19/10/2021 phòng PC09, ký hiệu H2;

+ 01 (một) Hộp giấy đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định, niêm phong còn nguyên vẹn. Một mặt ghi chữ: Kính gửi cơ quan CSĐT (PC04) – Công an tỉnh Bắc Ninh. Mẫu vật còn lại sau giám định kèm theo KLGĐ số 613/KLGĐMT-PC09 ghi ngày 19/10/2021 phòng PC09, ký hiệu H3;

+ 01 (một) Hộp giấy đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định, niêm phong còn nguyên vẹn. Một mặt ghi chữ: Kính gửi cơ quan CSĐT (PC04) – Công an tỉnh Bắc Ninh. Mẫu vật còn lại sau giám định kèm theo KLGĐ số 613/KLGĐMT-PC09 ghi ngày 19/10/2021 phòng PC09, ký hiệu H4;

+ 01 (một) cân tiểu ly màu trắng;

+ 01 túi giả da

- Trả lại cho bị cáo C: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus vỡ màn hình kèm 01 sim; trả lại cho bị cáo T : 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus hình kèm 01 sim.

Các bị cáo Vũ Tiến T, Nguyễn Văn C, Nguyễn Thị T không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Không ai ý kiến gì tranh luận gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét chỗ ở, lời khai của người liên quan, người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, HĐXX nhận thấy có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 23h00’ ngày 07/9/2021, Phòng CSĐT tội phạm về ma túy Công an tỉnh Bắc Ninh (PC04) phối hợp với Công an phường T, TP Từ Sơn kiểm tra khách sạn Đại Dương thuộc khu đô thị B, phường T, TP Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh phát hiện bắt quả tang:

- Tại phòng 501, Nguyễn Văn C đang có hành vi cung cấp chất ma tuý cho 16 đối tượng sử dụng, trong đó có Bùi Phương T, sinh ngày 28/4/2003; Nguyễn Thị Bích Phượng, sinh ngày 21/12/2007; Nguyễn Thị H, sinh ngày 06/12/2004. Số ma tuý C bỏ ra ngoài sử dụng chưa hết là 0,1352 gam ma tuý Ketamine, ngoài ra C còn cất giữ trong người vứt ra đệm là 1,7873 gam ma tuý Ketamine để cung cấp cho các đối tượng trên sử dụng.

- Tại phòng 602, Nguyễn Thị T đang có hành vi tàng trữ 1,3987 gam ma túy Ketamine và 2,5181 gam ma túy MDMA để sử dụng cho bản thân.

- Tại phòng 703, Vũ Tiến T có hành vi tàng trữ 110,4892 gam ma túy Ketamine và 1,8302 gam ma túy Methamphetamine để sử dụng cho bản thân.

Do đó, có đủ căn cứ để xét xử Vũ Tiến T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự, Nguyễn Văn C về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, điểm c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự, Nguyễn Thị T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý chất ma túy. Ma túy còn là nguồn gốc dẫn tới nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương, do vậy cần xử lý nghiêm bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa C.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX nhận thấy:

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các bị cáo T , C, T đều thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình. Bị cáo T đã ly hôn hiện được giao nuôi con nhỏ, bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự nên xử phạt mức khởi điểm của khung hình phạt cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo vừa thể hiện tính khoan hồng của pháp luật. Khối lượng ma túy bị cáo T tàng trữ là tương đối lớn. Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội với 2 tình tiết định khung tăng nặng quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự, là người có nhân thân rất xấu, đã bốn lần bị Tòa án các cấp xét xử nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội, thể hiện bị cáo là một người coi thường pháp luật vì vậy, cần có hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có thể giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện.

- Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) Phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định, niêm phong còn nguyên vẹn. Một mặt ghi chữ: Kính gửi cơ quan CSĐT (PC04) – Công an tỉnh Bắc Ninh. Mẫu vật còn lại sau giám định kèm theo KLGĐ số 613/KLĐGMT-PC09 ghi ngày 19/10/2021 phòng PC09, ký hiệu H1;

+ 01 (một) Hộp giấy đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định, niêm phong còn nguyên vẹn. Một mặt ghi chữ: Kính gửi cơ quan CSĐT (PC04) – Công an tỉnh Bắc Ninh. Mẫu vật còn lại sau giám định kèm theo KLGĐ số 613/KLGĐMT-PC09 ghi ngày 19/10/2021 phòng PC09, ký hiệu H2;

+ 01 (một) Hộp giấy đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định, niêm phong còn nguyên vẹn. Một mặt ghi chữ: Kính gửi cơ quan CSĐT (PC04) – Công an tỉnh Bắc Ninh. Mẫu vật còn lại sau giám định kèm theo KLGĐ số 613/KLGĐMT-PC09 ghi ngày 19/10/2021 phòng PC09, ký hiệu H3;

+ 01 (một) Hộp giấy đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định, niêm phong còn nguyên vẹn. Một mặt ghi chữ: Kính gửi cơ quan CSĐT (PC04) – Công an tỉnh Bắc Ninh. Mẫu vật còn lại sau giám định kèm theo KLGĐ số 613/KLGĐMT-PC09 ghi ngày 19/10/2021 phòng PC09, ký hiệu H4;

+ 01 (một) cân tiểu ly màu trắng;

+ 01 túi giả da

- Trả lại bị cáo C: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus vỡ màn hình kèm 01 sim; trả lại bị cáo T: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus hình kèm 01 sim.

. Những vấn đề khác:

- Đối với Nguyễn Văn C, Bàn Thị T, Bùi Phương T, Hà Thị L, Đặng Thị Hương, Trần Văn D, Ưng Sỹ D, Tạ Hồng S, Nguyễn Văn Huân, Nguyễn Văn T, Vương Thị Hoàng Y, Nguyễn Minh T, Trịnh Thị Lâm O, Nguyễn Thị T, Vũ Công V, Nguyễn Thị T, Phùng Thị Diễm Q và Vũ Tiến T là những người sử dụng ma túy và dương tính với ma túy. Nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, theo quy định tại khoản 01 Điều 21 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ. (BL 345 - 365).

- Đối với anh Chu Năng T và anh Đinh Minh H là nhân viên quản lý khách sạn Đại Dương, khi các bị cáo đến thuê phòng bản thân không biết các đối tượng tàng trữ và sử dụng ma túy trái phép, nên Cơ quan điều tra không xem xét là phù hợp.

- Đối với Đàm Tiến Đạt là chủ khách sạn Đại Dương để các bị cáo thuê phòng có hành vi tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy, nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt hành chính phạt tiền 5.000.000đ về việc quản lý khách sạn để cho các đối tượng sử dụng, tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại khoản 01 Điều 21 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ.

- Đối với các đối tượng bán, cho ma túy do các bị cáo T , T , C khai nhận, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi làm rõ sẽ xử lý sau.

. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Vũ Tiến T, Nguyễn Thị T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”

Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Vũ Tiến T 10 (Mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam giam từ ngày 08/9/2021.

Áp dụng điểm b, điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Văn C 08 (Tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam giam từ ngày 08/9/2021.

Áp dụng điểm i khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Thị T 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam giam từ ngày 08/9/2021.

Áp dụng điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam các bị cáo Vũ Tiến T, Nguyễn Văn C, Nguyễn Thị T mỗi bị cáo 45 (Bốn mươi năm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) Phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định, niêm phong còn nguyên vẹn. Một mặt ghi chữ: Kính gửi cơ quan CSĐT (PC04) – Công an tỉnh Bắc Ninh. Mẫu vật còn lại sau giám định kèm theo KLGĐ số 613/KLĐGMT-PC09 ghi ngày 19/10/2021 phòng PC09, ký hiệu H1;

+ 01 (một) Hộp giấy đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định, niêm phong còn nguyên vẹn. Một mặt ghi chữ: Kính gửi cơ quan CSĐT (PC04) – Công an tỉnh Bắc Ninh. Mẫu vật còn lại sau giám định kèm theo KLGĐ số 613/KLGĐMT-PC09 ghi ngày 19/10/2021 phòng PC09, ký hiệu H2;

+ 01 (một) Hộp giấy đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định, niêm phong còn nguyên vẹn. Một mặt ghi chữ: Kính gửi cơ quan CSĐT (PC04) – Công an tỉnh Bắc Ninh. Mẫu vật còn lại sau giám định kèm theo KLGĐ số 613/KLGĐMT-PC09 ghi ngày 19/10/2021 phòng PC09, ký hiệu H3;

+ 01 (một) Hộp giấy đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định, niêm phong còn nguyên vẹn. Một mặt ghi chữ: Kính gửi cơ quan CSĐT (PC04) – Công an tỉnh Bắc Ninh. Mẫu vật còn lại sau giám định kèm theo KLGĐ số 613/KLGĐMT-PC09 ghi ngày 19/10/2021 phòng PC09, ký hiệu H4;

+ 01 (một) cân tiểu ly màu trắng;

+ 01 túi giả da

- Trả lại cho bị cáo C: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus vỡ màn hình kèm 01 sim; trả lại cho bị cáo T : 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus hình kèm 01 sim.

(Vật chứng có đặc điểm theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 31/2022 ngày 29/11/2022 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh).

3. Về án phí: Các bị cáo Vũ Tiến T, Nguyễn Văn C, Nguyễn Thị T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./

Cỡ chữ