vanban.org

Bản án 28/2021/HSST — Hình sự

TAND TP. Vinh, tỉnh Nghệ An Tuyên án 29/01/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Võ Thị H phạm tội: “Buôn bán hàng cấm”.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Thị hà - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Võ Thị H phạm tội: “Buôn bán hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 190 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VINH
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2021/HSST
Ngày 29/01/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Khánh Toàn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Tùng, bà Trần Thị Như Hoa

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Anh - Thư ký Tòa án TP V.

- Đại diện VKSND thành phố Vinh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tùng - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 01 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 593/2020/TLST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2021/QĐXXST - HS ngày 07 tháng 01 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Võ Thị H - sinh ngày 30/03/1985 tại huyện L, tỉnh Q; Nơi cư trú: Khối 7, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Đức U và bà Võ Thị L; Chồng: Trần Xuân P – sinh năm 1983; Con: có 02 con (lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2015); Tiền án, tiền sự, nhân thân: không; Bị tạm giữ từ ngày 14/09/2020 đến ngày 20/09/2020 được tại ngoại tại địa phương nơi cư trú có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Thị H là chủ cửa hàng kinh doanh hàng tạp hóa “Thu Huế” số 42, đường Nguyễn Xiển, thuộc khối 23, phường Hồng Sơn, TP V, tỉnh Nghệ An. Khoảng 14 giờ ngày 14/9/2020, H mua của một người phụ nữ (không biết lai lịch, địa chỉ) 61 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu 555 và 100 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu JET do nước ngoài sản xuất đưa về cửa hàng để bán kiếm lời. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày 14/9/2020, tổ công tác Đội cảnh sát kinh tế Công an TP V phối hợp với Đoàn kiểm tra liên ngành 389 UBND TP V tiến hành kiểm tra tại cửa hàng kinh doanh hàng tạp hóa của Võ Thị H phát hiện 03 thùng cattong, bên trong có chứa 250 bao thuốc lá điếu mang nhãn hiệu “BLEND NO.555 SIGNATURE”, 250 bao thuốc lá điếu mang nhãn hiệu “BLEND NO.555 MADARIN” và 100 cây (1000 bao) thuốc lá điếu mang nhãn hiệu “JET”, 01 thùng cattong bên trong có chứa 108 bao thuốc lá điếu mang nhãn hiệu “BLEND NO.555 GOLD” do nước ngoài sản xuất nhưng không có hóa đơn, chứng từ hợp lệ. Người cùng tang vật được đưa về trụ sở Công an TP V lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Căn cứ kết luận giám định số 6413/C09-P4 ngày 23/9/2020 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận: Toàn bộ 250 bao thuốc lá điếu (20 điếu/bao) mang nhãn hiệu “BLEND NO.555 SIGNATURE”, 250 bao thuốc lá điếu (20 điếu/bao) mang nhãn hiệu “BLEND NO.555 MADARIN”, 108 bao thuốc lá điếu (20 điếu/bao) mang nhãn hiệu “BLEND NO.555 GOLD” và 1000 bao thuốc lá điếu (20 điếu/bao) mang nhãn hiệu “JET” đều không có dán tem nhập khẩu, không có chữ tiếng Việt theo quy định của Thông tư 124/2007/TT-BTC ngày 26/10/2007 của Bộ Tài chính quy định gửi tới giám định đều là thuốc lá điếu sản xuất tại nước ngoài và không được tiêu thụ tại Việt Nam.

Cáo trạng số 17/CT-VKS-TPV ngày 16/12/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh truy tố bị cáo Võ Thị H về tội: “Buôn bán hàng cấm ” theo điểm b khoản 1 điều 190 BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm b khoản 1 điều 190, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 65 BLHS xử phạt: Võ Thị H từ 18 đến 21 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 tháng đến 42 tháng, phạt tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) về tội: “Buôn bán hàng cấm ”. Về tang vật: Áp dụng khoản 1 điều 47, khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 1.608 bao thuốc lá điếu các loại do nước ngoài sản xuất thu giữ Võ Thị H hiện có tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự TP V. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 BLTTHS; điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Võ Thị H hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, không có ý kiến tranh luận gì mà chỉ xin HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Vinh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

.Về nội dung:

.Tại phiên tòa bị cáo Võ Thị H khai nhận: Khoảng 15 giờ, ngày 14/09/2020 tại cửa hàng kinh doanh hàng tạp hóa “Thu Huế” số 42, đường Nguyễn Xiển, thuộc khối 23, phường Hồng Sơn, TP V, tỉnh Nghệ An do Hà làm chủ, bị cáo có hành vi cất giữ 250 bao thuốc lá điếu mang nhãn hiệu “BLEND NO.555 SIGNATURE”, 250 bao thuốc lá mang nhãn hiệu “BLEND NO.555 MADARIN”, 108 bao thuốc lá mang nhãn hiệu “BLEND NO.555 GOLD” và 1000 bao thuốc lá mang nhãn hiệu “JET” do nước ngoài sản xuất, không có tem nhập khẩu, không có hóa đơn, chứng từ theo quy định để bán kiếm lời đã bị tổ công tác đội cảnh sát kinh tế Công an TP V phối hợp với Đoàn kiểm tra liên ngành 389 UBND TP V phát hiện bắt giữ. Lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đều phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận: Hành vi cất giữ 1.608 bao thuốc lá điếu các loại do nước ngoài sản xuất, không có tem nhập khẩu, không có hóa đơn, chứng từ hợp lệ để bán kiếm lời mà bị cáo Võ Thị H thực hiện đã vi phạm Thông tư 124/2007/TT-BTC ngày 26/10/2007 của Bộ Tài chính và đã có đủ yếu tố cấu thành tội: “Buôn bán hàng cấm”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 điều 190 BLHS.

. Vụ án thuộc loại nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã vi phạm quy định của nhà nước về việc quản lý các loại hàng cấm kinh doanh, gây mất trật tự trên địa bàn thành phố Vinh nói riêng và trật tự trị an xã hội nói chung. Mặc dù bị cáo nhận thức được thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất nhập lậu là mặt hàng bị nhà nước nghiêm cấm buôn bán, kinh doanh nhưng do hám lợi bất chính, ý thức chấp hành pháp luật kém nên bị cáo vẫn ngang nhiên mua 1.608 bao thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất, không có hóa đơn, chứng từ về bán cho người khác để hưởng lợi, vì vậy cần phải xử lý nghiêm. Tuy nhiên HĐXX xét thấy trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, gia đình bị cáo có công với cách mạng, cả bố và mẹ của bị cáo đều được nhà nước tặng thưởng huân, huy chương các loại nên cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt khi lượng hình và xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo bản thân nên chưa cần thiết phải cách ly ra khỏi xã hội mà xử cho bị cáo được hưởng án treo và áp dụng thêm hình phạt bổ sung là phạt tiền như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa để trở thành người có ích cho xã hội.

. Về tang vật: - Gồm 1.608 bao thuốc lá các loại gồm các nhãn hiệu “BLEND NO.555 SIGNATURE”, “BLEND NO.555 MADARIN”, “BLEND NO.555 GOLD” và “JET” được xác định là mặt hàng nhà nước cấm buôn bán cần tịch thu tiêu hủy.

Trong vụ án này còn có người phụ nữ đã bán số thuốc lá trên cho Võ Thị H nhưng do H không biết được lai lịch, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra Công an TP V tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo Võ Thị H phải chịu án phí HSST theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Võ Thị H phạm tội: “Buôn bán hàng cấm”.

Áp dụng điểm b khoản 1, khoản 4 Điều 190, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS xử phạt: Võ Thị H 18 (Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (29/01/2021). Giao bị cáo Võ Thị H cho Ủy ban nhân dân phường Trung Đô, TP V, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo. Phạt tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

- Về tang vật: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: - Tịch thu tiêu hủy 1.608 bao thuốc lá gồm các nhãn hiệu “BLEND NO.555 SIGNATURE”, “BLEND NO.555 MADARIN”, “BLEND NO.555 GOLD” và “JET” do nước ngoài sản xuất thu giữ của bị cáo Võ Thị H hiện có tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án TP V, có đặc điểm theo phiếu nhập kho vật chứng số NK 2021/99 ngày 12/01/2021.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Võ Thị H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí HSST.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (29/01/2021) bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An./.

TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ