vanban.org

Bản án 28/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 07/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Y R Niê phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.

Xử phạt: Bị cáo Y R Niê 07 (Bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 21/02/2020. Các biện pháp tư pháp: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Y R Niê - phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (điều 142 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Y R Niê phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG BÚK
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2020/HS-ST
Ngày: 07- 8-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÚK, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Thái Văn Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Y Mưng Niê – Đội phó đội công tác 253 xã Cư Pơng

2. Ông Phạm Thành Ngọc – Phó phòng GD&ĐT huyện Krông Búk.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk tham gia phiên toà: Ông Đinh Quang Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự thụ lý số: 28/2020/HSST, ngày 17 tháng 7 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2020/QĐXXST – HS, ngày 27 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:

Y R Niê (tên gọi khác: Không); Sinh ngày 01/01/1960, tại: tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Buôn D, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 0/12; Dân tộc: Ê Đê; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Y T Mlô (đã chết) và bà H K Niê; Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/02/2020, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk; Có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Cháu H Đ Niê, sinh ngày 06/10/2007.

Địa chỉ: Buôn D, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà H M Niê, sinh năm 1990 (là mẹ đẻ của H Đ Niê).

Địa chỉ: Buôn D, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại H Đ Niê: bà H MLen Mlô – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đắk Lắk – Có mặt.

- Những người làm chứng:

+ Cháu Y S Niê, sinh năm 2010.

Địa chỉ: Buôn D, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của người làm chứng Y S Niê: Bà H M Niê.

Địa chỉ: Buôn D, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.

+ Chị H M Mlô, sinh năm 1994

Địa chỉ: Buôn D, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.

+ Bà H Nh Niê, sinh năm 1977

Địa chỉ: Buôn D, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.

- Người phiên dịch tiếng Êđê: Ông Y BHiu MLô – C/v: Chủ tịch hội người cao tuổi huyện Krông Búk: có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ ngày 20/02/2020, Y R Niê uống rượu cùng với ông Y Th Buôn Krông tại nhà của ông Y Th ở Buôn D, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, sau khi uống rượu xong thì Y R đi về nhà tại Buôn D, xã C hái rau, sau đó Y R mang rau đến cho ông Y Th ăn nhưng không có ông Y Th ở nhà nên Y R đi về, trên đường về đi ngang qua cây vú sữa gần nhà của ông Th thì thấy cháu H Đ Niê, sinh năm 2007 cùng với em trai tên Y S Niê, sinh năm 2010 (con của ông Y Th) đang hái trái Vú sữa ở trên cây, ở dưới gốc có bà H M Mlô, trú cùng Buôn đang ngồi chơi. Y R Niê đi qua một lúc rồi quay lại thấy có một mình cháu H Đ ở trên cây Vú sữa, lúc này Y R Niê nảy sinh ý định giao cấu với cháu H Đ, nên Y R Niê nói với cháu H Đ “đi vào rẫy cà phê, cho quan hệ tình dục, khi về cho tiền”. Sau đó Y R Niê đi vào rẫy cà phê của gia đình ông H thuộc khu vực Buôn D, xã C cách cây Vú sữa khoảng 70 mét, còn cháu H Đ đi theo sau. Khi vào rẫy của ông H đến một hố cà phê Y R Niê và H Đ dừng lại, rồi Y R tự cởi quần dài và quần lót của mình đến đầu gối, còn cháu H Đ tự cởi quần dài của mình đang mặc xuống ngang đầu gối. Sau đó Y R nằm đè lên người của cháu H Đ, lúc này dương vật của Y R chưa cương cứng và Y R dùng tay cầm dương vật của mình cọ sát vào âm hộ của cháu H Đ thì bị cháu H Đ dùng hất tay của Y R ra, nhưng sau đó Y R tiếp tục dùng tay cầm dương vật của mình cọ sát vào âm hộ của cháu H Đ. Trong lúc Y R đang nằm đè lên người của cháu H Đ thì bị cháu Y S Niê phát hiện và dùng đoạn ống nhựa đánh vào lưng Y R, khi bị phát hiện Y R và H Đ đứng dậy mặc quần, rồi Y R lấy tiền đưa cho cháu H Đ 500.000 đồng, đồng thời dặn H Đ đừng có nói với ai, sau đó Y R và H Đ bỏ đi về nhà. Khi về đến nhà thì cháu Y S đã báo lại với bà H M Niê là mẹ đẻ của H Đ biết việc Y R giao cấu với H Đ. Sau khi hành vi của mình bị phát hiện nên vào ngày 21/02/2020, Y R đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Búk đầu thú và khai báo về hành vi phạm tội của mình.

Về vật chứng vụ án Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ gồm: Thu giữ của bị cáo Y R Niê 01 áo vải dài tay loại Bludông màu cam, trên nắp túi áo ngực bên trái có in logo Công ty phân bón Việt Nhật màu xanh; 01 quần dài bằng vải màu xanh, loại có cúc khóa quần; 01 quần đùi bằng vải thun màu xanh đen, hai bên hông mỗi bên có ba sọc dọc theo quần, hai sọc màu trắng, một sọc màu đỏ.

- Thu giữ của bị hại H Đ Niê: 01 quần loại quần tây học sinh có màu đen đã cũ; 01 áo thun cổ tròn tay ngắn màu trắng đã ngã màu, trên áo có may cúc và mảnh vải in hình mặt cười; 01 áo yếm màu đen, 01 tờ tiền Polime mệnh giá 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng chẵn)

- Thu giữ của cháu Y S Niê: 01 (một) ống nhựa hình trụ tròn, màu xanh nhạt, chiều dài 64cm, đường kính 02cm, rỗng ruột.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tình dục số: 237/TD-TTPY ngày 21 tháng 02 năm 2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận giám định pháp y về tình dục của H Đ Niê, kết luận: - Màng trinh:

+ Dạng hình O val, có hai nếp gấp: một nếp gấp với khe tự nhiên sâu chưa tới chân màng trinh vị trí 7 giờ, một nếp gấp ở vị trí 4 giờ;

+ Lỗ màng trinh nhỏ: đường kính 0,5 cm;

+ Bờ tự do màng trinh phía ½ trên mỏng, ½ dưới dày, hồng;

+ Không phát hiện vết rách. Không có dấu hiệu tổn thương;

- Các phần khác của bộ phận sinh dục: Không thấy tổn thương.

- Các bộ phận khác của cơ thể: Không thấy tổn thương.

Tại bản Cáo trạng số 29/KSĐT-HS, ngày 16 tháng 7 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk truy tố bị cáo Y R Niê về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 142 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Y R Niê Thành khẩn khai nhận hình vi phạm tội của mình đúng như Caùo traïng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk đã truy tố.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 142; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Y R Niê từ 07 năm tù đến 08 năm tù.

Các biện pháp tư pháp:

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tịch thu tiêu hủy của Y R Niê 01 áo vải dài tay loại Bludông màu cam, trên nắp túi áo ngực bên trái có in logo Công ty phân bón Việt Nhật màu xanh; 01 quần dài bằng vải màu xanh, loại có cúc khóa quần; 01 quần đùi bằng vải thun màu xanh đen, hai bên hông mỗi bên có ba sọc dọc theo quần hai sọc màu trắng, một sọc màu đỏ.

- Tich thu tiêu hủy: 01 ống nhựa hình trụ tròn, màu xanh nhạt, chiều dài 64cm, đường kính 02cm, rỗng ruột.

- Trả lại cho H Đ Niê: 01 quần loại quần tây học sinh có màu đen đã cũ; 01 (một) áo thun cổ tròn tay ngắn màu trắng đã ngã màu, trên áo có may cúc và mảnh vải in hình mặt cười; 01 áo yếm màu đen,

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 tờ tiền Polime mệnh giá 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng chẵn)

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Y R Niê phải có trách nhiệm bồi thường tiền tổn thất tinh thần, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm cho cháu H Đ Niê theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa Trợ giúp viên pháp lý tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại H Đ Niê trình bày luận cứ:

Về tội danh đồng ý quan điểm với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk và đề nghị xét xử xử bị cáo về tội “ Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 142 Bộ luật hình sự.

-Về hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Y R Niê: 08 năm tù.

-Về dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 589, 592 Bộ luật dân sự buộc bị cáo phải bồi thường tiền tổn thất tinh thần là 14.900.000đ và chi phí chăm sóc và bồi dưỡng sức khỏe là 5.100.000đ. tổng cộng các khoản là 20.000.000đ

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố và không tranh luận gì.

Người đại diện hợp pháp của người bị hại không có ý kiến tranh luận; về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử, xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật, về phần trách nhiệm dân sự bà H M thống nhất quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại H Đ Niê, không có ý hay yêu cầu gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đinh như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. [2] Về nội dung: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Do ý thức coi thường pháp luật, coi thường sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người khác, nên vào khoảng 15 giờ ngày 20/02/2020, tại buôn D, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, bị cáo Y R Niê đã có hành vi giao cấu với cháu H Đ Niê là người dưới 13 tuổi.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Y R Niê phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 142 của Bộ luật hình sự.

Tại điểm b khoản 1 Điều 142 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

…;

b) Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi.

Đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo: Xét thấy hành vi do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong Bộ luật hình sự, không những trực tiếp xâm hại đến sức khỏe, nhân phẩm của người bị hại mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo hoàn toàn có đủ khả năng nhận thức về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi và hậu quả xảy ra nhưng do ham muốn thỏa mãn dục vọng cá nhân nên bị cáo đã rủ cháu H Đ đi vào rẫy cà phê để quan hệ tình dục và được cháu H Đ đồng ý. Tuy được cháu H Đ đồng ý nhưng tại thời điểm đó cháu H Đ sinh ngày 06/10/2007 mới 12 tuổi 04 tháng 14 ngày, như vậy cháu H Đ là người dưới 13 tuổi theo quy định. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc là cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ điều kiện để cải tạo giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số và không có trình độ học vấn nên nhận thức về pháp luật bị hạn chế, sau khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và bị phát hiện đến ngày 21/02/2020 bị cáo đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Búk để đầu thú. Vì vậy, cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần trách nhiệm hình sự.

Các biện pháp tư pháp:

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy của Y R Niê 01 áo vải dài tay loại Bludông màu cam, trên nắp túi áo ngực bên trái có in logo Công ty phân bón Việt Nhật màu xanh; 01 quần dài bằng vải màu xanh, loại có cúc khóa quần; 01 quần đùi bằng vải thun màu xanh đen, hai bên hông mỗi bên có ba sọc dọc theo quần hai sọc màu trắng, một sọc màu đỏ.

- Tich thu tiêu hủy: 01 ống nhựa hình trụ tròn, màu xanh nhạt, chiều dài 64cm, đường kính 02cm, rỗng ruột.

- Trả lại cho H Đ Niê: 01 quần loại quần tây học sinh có màu đen đã cũ; 01 (một) áo thun cổ tròn tay ngắn màu trắng đã ngã màu, trên áo có may cúc và mảnh vải in hình mặt cười; 01 áo yếm màu đen,

(Các vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/7/2020 giữa cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Krông Búk và chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Búk).

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 tờ tiền Polime mệnh giá 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng chẵn)

( Vật chứng có đặc điểm như biên lai thu tiền số 10898 ngày 31/7/2020 giữa cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Krông Búk và chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Búk).

- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46, khoản 2 Điều 48 Bộ luật hình sự và Điều 585, 590, 592 Bộ luật dân sự, buộc bị cáo Y R Niê phải bồi thường tiền thiệt hại danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm cho bị hại H Đ Niê là 10 tháng lương cơ sở và tiền bồi dưỡng sức khỏe, tổn thất tinh thần là 04 tháng lương cơ sở cụ thể như sau:

Tiền thiệt hại danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm là 10 tháng x 1.490.000đ = 14.900.000đ.

Tiền bồi dưỡng sức khỏe, tổn thất tinh thần là 04 tháng x 1.490.000đ = 5.960.000đ. Tổng cộng là 20.860.000đ ( Hai mươi triệu tám trăm sáu mươi nghìn đồng chẵn)

Về án phí: Buộc bị cáo Y R Niê phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điểm b khoản 1 Điều 142; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Y R Niê phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.

Xử phạt: Bị cáo Y R Niê 07 (Bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 21/02/2020.

Các biện pháp tư pháp:

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tịch thu tiêu hủy của Y R Niê 01 áo vải dài tay loại Bludông màu cam, trên nắp túi áo ngực bên trái có in logo Công ty phân bón Việt Nhật màu xanh; 01 quần dài bằng vải màu xanh, loại có cúc khóa quần; 01 quần đùi bằng vải thun màu xanh đen, hai bên hông mỗi bên có ba sọc dọc theo quần hai sọc màu trắng, một sọc màu đỏ.

- Tich thu tiêu hủy: 01 ống nhựa hình trụ tròn, màu xanh nhạt, chiều dài 64cm, đường kính 02cm, rỗng ruột.

- Trả lại cho H Đ Niê: 01 quần loại quần tây học sinh có màu đen đã cũ; 01 (một) áo thun cổ tròn tay ngắn màu trắng đã ngã màu, trên áo có may cúc và mảnh vải in hình mặt cười; 01 áo yếm màu đen,

(Các vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/7/2020 giữa cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Krông Búk và chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Búk).

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 tờ tiền Polime mệnh giá 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng chẵn)

( Vật chứng có đặc điểm như biên lai thu tiền số 10898 ngày 31/7/2020 giữa cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Krông Búk và chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Búk).

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46, khoản 2 Điều 48 Bộ luật hình sự và Điều 585, 590, 592 Bộ luật dân sự, buộc bị cáo Y Rôh Niê phải bồi thường cho bị hại H Đ Niê. Tổng số tiền là 20.860.000đ ( Hai mươi triệu tám trăm sáu mươi nghìn đồng chẵn)

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Y R Niê phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.043.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự; người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luât thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự; Nôi nhaän:

Cỡ chữ