vanban.org

Bản án 28/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An Tuyên án 28/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Tr 12 ( Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 27 / 12 /2018. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Trọng trộm căp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔ LƯƠNG
TỈNH NGHỆ AN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28 /2019/HS-ST
Ngày 28- 3- 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Đại Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Hào và bà Lê Thị Sử

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lệ Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An

tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thuỳ Dung - Kiểm sát viên. Ngày 28 tháng 3 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 56 /2018/TLST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2019/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo

Họ và tên: Nguyễn Văn Tr.Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 28 / 8/1989 tại xã Trung Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm 1, xã Trung Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch:Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Hùng và bà Nguyễn Thị Hải; Vợ con: Chưa; Tiền sự: Không; Tiền án: - Tại bản án 23/2013/HSST ngày 10/ 5/2013 của Toà án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ an xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng 14 ngày về tội “trộm cắp tài sản”.

- Tại bản sán số 49/2014/HSST ngày 14/ 7/2014 bị Toà án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ an xử phạt 12 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” và tổng hợp với bán án số 23/2013/HSST ngày 10/ 5/2013 buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 21 tháng tù. Chấp hành hình phạt xong ngày 24/10/2015

- Tại bản án số 09/2017/HSST ngày 28/ 02/2017 bị Toà án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ an xử phạt 24 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 09/9/2018. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/ 12 / 2018 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: 1. Anh Dương Trọng Ph - Sinh năm 1984 Địa chỉ : Xóm 9, xã Thượng Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.Vắng mặt 2. Chị Nguyễn Thị H - Sinh năm 1975 Địa chỉ: Xóm 1, xã Trung Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Trọng Thìn - Sinh năm 1964 Địa chỉ: Xóm 2, xã Xuân Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vụ thứ nhất: Nguyễn Văn Tr khai nhận: Vào sáng ngày 12/12/2018 khi Trọng đang ở nhà thì có Phan Văn Anh đến chơi, một lúc sau có Hoàng Văn Hồng đến nhà rủ Trọng đi mua ma tuý để sử dụng, Hoàng Văn Hồng đã dùng xe máy mượn của Nguyễn Trọng Thìn chở Nguyễn Văn Tr và Phan Văn Anh đi mua ma tuý để sử dụng. Sau khi sử dụng ma tuý xong, trên đường về nhà đi qua nhà chị Nguyễn Thị H ở xóm 1 Trung Sơn, biết gia đình chị Hậu nuôi nhiều gà nên Trọng rủ Hồng và Anh vào bắt trộm gà. Nguyễn Văn Tr nói Nguyễn Văn Hồng đứng ngoài cảnh giới, còn Trọng và Anh nhảy tường vào nhà bắt gà, Nguyễn Văn Tr vào chuồng bắt còn Phan Văn Anh lấy một chiếc bì để cho Trọng bỏ gà vào bì. Sau khi bắt được 02 con gà trống và 01 con gà mái thì Hồng, Trọng và Anh cùng nhau đưa lên chợ Điếm thuộc xã Đà Sơn để bán. Số gà này cân được 6kg đã bán cho một người đàn bà không quen biết với giá 650.000đ ( Sáu trăm năm mươi nghìn đồng). Sau khi bán gà xong , Trọng và Anh lấy 180.000đ ( Một trăm tám mươi nghìn đồng) đi mua ma tuý để cả ba cùng sử dụng, còn Phan Văn Anh lấy 15.000đ ( Mười lăm nghìn đồng) đi mua kẹo ăn. Còn lại 455.000đ để lại Phan Văn Anh cất giữ. Sau đó Phan Văn Anh và Nguyễn Văn Hồng bị cơ qua công án phát hiện đưa về trụ sở làm việc, còn Nguyễn Văn Tr bỏ trốn. Phan Văn Anh đã giao nộp số tiền 455.000đ ( Bốn trăm năm mươi lăm nghìn đồng) cho cơ quan công an.

Vụ thứ hai: Khoảng 10 giờ ngày 27/12/2018 Nguyễn Văn Tr có nhờ bố của Trọng là ông Nguyễn Văn Hùng chở lên trước cổng Trung tâm giáo dục thường xuyên huyện Đô Lương thuộc xã Đà Sơn để chuộc điện thoại cắm trước đó. Sau đó bố của Trọng đi về, còn Trọng ở lại một lúc khoảng 10 giờ 30 phút Nguyễn Văn Tr gặp Nguyễn Viết Hùng, tại đây Hùng rủ Trọng đi trộm gà vịt, Hùng nói “ Giờ tau với mi đi trộm gà vịt kiếm ít tiền tiêu”, Trọng đồng ý đã ngồi trên xe máy của Hùng đi theo hướng Bệnh viện huyện Đô Lương đi xã Yên Sơn, khi đến xóm 9, xã Thịnh Sơn thì phát hiện có một con ngan trống màu đen đang nằm bên đường nên Hùng dừng xe lại, còn Trọng nhảy xuống bắt con ngan rồi nhảy lên xe của Hùng bỏ chạy, đi được 10 mét thì chủ nhà anh Dương Trọng Ph phát hiện và tri hô người dân rượt đuổi Hùng và Trọng, sau đó bắt được Nguyễn Văn Tr còn Nguyễn Viết Hùng quay xe bỏ trốn.

Kết luận định giá tài sản số 11 ngày 02/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đô lương kết luận: Một con ngan trống có trọng lượng 4,5 kg của gia đình anh Dương Trọng Ph có trị giá 360.000đ ( Ba trăm sáu mươi nghìn đồng) và hai con gà trống và một con gà mái có trọng lượng 06 kg của gia đình chị Nguyễn Thị H có trị giá 720.000đ ( Bảy trăm hai mươi nghìn đồng). Tổng trị giá tài sản do Nguyễn Văn Tr chiếm đoạt là 1.080.000đ ( Một triệu không trăm tám mươi nghìn đồng). Bản cáo trạng số 20/CT-VKS ngày 20/ 02/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Tr về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo Nguyễn Văn Tr thừa nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: Áp dụng khoản 1 điều 173, b, s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Tr từ 12 ( Mười hai ) đến 15 ( Mười lăm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và về bồi thường dân sự: Bị hại không có yêu cầu bồi thường về dân sự nên miễn xét, về xử lý vật chứng: tuyên tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 455.000đ do phạm tội mà có

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1]. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Đô Lương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp. [2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Tr khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình cụ thể: Khoảng thời gian từ ngày 12/12/2018 đến ngày 27/12/2018, Nguyễn Văn Tr đã thực hiện 02 lần trộm cắp gà của các gia đình anh Dương Trọng Ph và gia đình chị Nguyễn Thị H với trị giá tổng số tiền chiếm đoạt là 1.080.000đ ( Một triệu không trăm tám mươi nghìn đồng). Do trước đó bị cáo có một tiền án về tội “ trộm cắp tài sản chưa được xoá án tích cho nên đây là tình tiết định tội danh về tội trộm cắp tài sản đối với bị cáo. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai người bị hại, những người tham gia tố tụng khác và vật chứng đã thu giữ được. Có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Văn Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự theo như cáo trạng truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. [3]. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Đây là vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự an ninh tại địa phương, gây hoang mang, bất bình trong quần chúng nhân dân không yên tâm lao động sản xuất. Bản thân bị cáo đã có hai tiền án về tội trộm cắp tài sản và ngày 28/02/2017 bị Toà án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xử phạt 24 tháng tù về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích nay bị cáo lại tiếp tục phạm tội chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật, khó cải tạo. Do vậy cần phải xử phạt nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện giáo dục, răn đe bị cáo và công tác phòng ngừa tội phạm trên địa bàn.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo: Tại thời điểm phạm tội bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ đó là sau khi phạm tội đã đầu thú hành vi phạm tội của mình và tự nguyện bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị H số tiền 720.000đ, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải. Đó là là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. [4]. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt tù bị cáo còn có thể bị phạt tiền bổ sung. Tuy nhiên qua xác minh của cơ quan điều tra bản thân bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn thuộc diện hộ nghèo, không cớ thu nhập ổn định. Cho nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo. [5]. Trong vụ án này đối với Phan Văn Anh và Nguyễn Văn Hồng cung tham gia phạm tội với bị cáo Trọng nhưng chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đô Lương đã xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật. [6]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Anh Dương Trọng Ph không có yêu cầu gì về mặt dân sự nên miễn xét. Bị hại chị Nguyễn Thị H yêu cầu bị cáo Trọng trả lại số tiền trị giá 03 con gà là 720.000đ ( Bảy trăm hai mươi nghìn đồng).Hiện nay bị cáo và gia đình đã bồi thường cho chị Nguyễn Thị H toàn bộ số tiền trên và chị Nguyễn Thị H không có yêu cầu gì thêm.. [7]. Về vật chứng: Đối với số tiền 455.000đ ( Bốn trăm năm mươi lăm nghìn đồng) do bị cáo và các đối tượng giao nộp đây là số tiền do phạm tội mà có cần tuyên tịch thu và sung quỹ Nhà nước.

. Về án phí: Căn cứ điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội, buộc bị cáo Nguyễn Văn Tr chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Tr 12 ( Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 27 / 12 /2018.

3. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

Tuyên tịch thu và sung quỹ nhà nước số tiền 455.000đ ( Bốn trăm năm mươi lăm nghìn đồng) do phạm tội mà có của bị cáo Nguyễn Văn Tr và các đối tượng trong vụ án đã nộp vào tài khoản số 3949010536290000 tại Kho bạc nhà nước huyện Đô Lương của Công an huyện Đô Lương.

4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Tr phải nộp 200.000đ (Hai trăm

nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ