- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn P trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Điều 104 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2018/HSST Ngày: 27- 4 -2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Văn Cường.
Các Hội thẩm nhân dân:
1- Bà Trần Thị Tuyết Sơn;
2- Ông Nguyễn Văn Thượng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Trọng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Lang - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 29/2018/HSST ngày 02 tháng 4 năm 2018; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2018/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2018, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn P, sinh năm 1981 tại Tây Ninh; Nơi cư trú: ấp Suối S, xã An T, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn (lao động tự do); trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn L, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1957; bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án: Bị cáo có 06 tiền án.
1. Bản án số: 12/HSST ngày 14/3/2000 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh: Áp dụng khoản 1 Điều 155; điểm d, h khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn P: 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Bản án sơ thẩm hình sự số: 51/HS-ST ngày 14/11/2000 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh: Áp dụng khoản 1 Điều 155; điểm d, h khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 1985; khoản 2 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Xử phạt bị cáo Trần Văn P: 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
3. Bản án phúc thẩm hình sự số: 107/PTHS ngày 15/11/2001 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn P 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
4. Bản án phúc thẩm hình sự số: 114/PTHS ngày 04/12/2001 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 138; điềm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo 03 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
5. Bản án hình sự sơ thầm sô: 67/2007/HSST ngày 03/8/2007 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 138; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm b, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn P 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
6. Bản án phúc thẩm hình sự số: 131/2010/HSPT ngày 09/8/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh: Áp dụng điểm a, b, c, e khoản 2 Điều 138; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn P 07 (bảy) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/3/2016.
Tiền sự: Không; bị cáo đang chấp hành án tại nhà tạm giữ công an huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Nhân thân: Ngoài các tiền án trên Bản án số: 100/2017/HSST, ngày 29/12/2017 bị cáo bị Tòa án án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, e, h, i khoản 1 Điều 104; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999. Do hành vi trộm cắp tài sản xảy ra trước khi bản án số 100/2017/HSST, ngày 29/12/2017 có hiệu lực pháp luật nên không được xem là tiền án. Bị cáo bị tạm giam trong vụ án này từ ngày 02/11/2017 đến nay ( có mặt tại phiên tòa).
Người bị hại trong vụ án: Anh Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 1978; địa chỉ cư trú: Ấp Tân Hòa, xã Tân Phú, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn L, sinh năm 1956; địa chỉ cư trú: ấp Suối Sâu, xã An Tịnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ, ngày 12/3/2017 bị cáo Trần Văn P đến tiệm sửa chữa và mua bán xe mô tô cũ của anh Nguyễn Tấn Đ, tại tổ 9, ấp Tân X, xã Tân P, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh hỏi mua xe mô tô đã qua sử dụng, nên anh Đ giới thiệu cho bị cáo P xem 02 xe mô tô hiệu Siriur, bị cáo Phú yêu cầu được chạy thử anh Đạt đồng ý. Bị cáo Phú lấy chiếc xe Siriur màu vàng chạy thử rồi quay về trả, bị cáo tiếp tục lấy chiếc xe Siriur biển số 70F1-210.45 màu đỏ - đen chạy thử rồi quay về trả. Lúc này có khách đến sửa chữa xe nên anh Đ vào sửa xe, lợi dụng lúc anh Đ không để ý, bị cáo Phú lấy chiếc xe mô tô hiệu Siriur biển số 70F1-210.45 đẩy ra ngoài chạy xe đến tỉnh Bình phước rồi chạy xe sang nước Campuchia bán được 6.500.000 đồng tiêu xài. Đến ngày 02/11/2017, bị cáo P đến Công an huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đầu thú trong vụ ánh hình sự “Cố ý gây thương tích” đã khởi tố và truy nã.
Kết quả định giá tài sản: tại bản kết luận định giá tài sản số: 26 ngày 24/3/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, kết luận 01 xe mô tô nhãn hiệu Siriur biển số 70F1-210.45 có giá trị tại thời điểm ngày 12/3/2017 là 11.000.000 đồng.
Vật chứng không thu hồi được.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại: ông Trần Văn L là cha bị cáo P đã bồi thường cho anh Nguyễn Tấn Đ số tiền 11.500.000 đồng, anh Đạt không yêu cầu gì thêm.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, như nội dung Cáo trạng đã nêu.
Tại bản cáo trạng số: 31/CT-VKSTC ngày 30/3/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Trần Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 138; điểm b, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999:
Xử phạt bị cáo Trần Văn P từ 03 đến 04 năm tù.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Ghi nhận anh Đạt đã nhận số tiền trị giá xe bị cáo chiếm đoạt là 11.500.000 đồng của ông Lợi (cha bị cáo Phú), anh Đạt không yêu cầu gì thêm.
Bị cáo tại phiên tòa trình bày lời nói sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[ 1 ] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[ 2 ] Về hành vi của bị cáo thể hiện:
Giữa bị cáo Trần Văn P và anh Nguyễn Tấn Đ là bạn cùng chấp hành án chung tại Trại cải tạo Cây Cầy, sau khi ra tù anh Đ về nhà kinh doanh xe mô tô qua sử dụng, khoảng 11 giờ ngày 12/3/2017, bị cáo Phú đến nơi kinh doanh của anh Đ hỏi mua xe mô tô, anh Đ giới thiệu cho bị cáo 02 xe mô tô hiệu Sirius, bị cáo chạy thử xe thứ nhất, sau đó đem về trả lại cho anh Đ và tiếp tục chạy thử xe thứ hai biền số 70F1- 210.45 chạy xong đem về trả, khi trả lợi dụng lúc anh Đ có khách đến sửa chữa xe, trong lúc sửa xe anh Đ quay mặt vào trong sủa xe cho khách, bị cáo lấy xe mô tô hiệu Sirius biển số 70F1 -210.45 chạy qua tỉnh Bình Phước sang nước Campuchia bán được 6.500.000 đồng lấy tiền tiêu xài cá nhân. Hành vi của Trần Văn P đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999.
[ 3 ] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của anh Đ một cách trái pháp luật, bị cáo lợi dụng anh Đ đang sửa chữa xe mô tô cho khách không trông coi xe mô tô đang trưng bày bán, bị cáo lén lút đẩy xe chạy đi bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, trị giá chiếc xe bị cáo trộm tại thởi điểm là 11.000.000 đồng, bị cáo có nhiều tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích, lần phạm tội này là tái phạm nguy hiểm. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, truy tố bị cáo Trần Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” theo các điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Nhưng bị cáo có 05 tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích, bản thân không nghề nghiệp (trốn theo lệnh truy nã), trộm cắp tài sản dùng vào nguồn sống chính của bị cáo, Cáo trạng không truy tố bị cáo phạm tội có tính chất chuyên nghiệp theo điểm b khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 là thiếu sót. Căn cứ vào Điều 196 Bộ luật Tố tụng hình sự áp dụng điểm b khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự để xử lý đối với bị cáo.
[ 4 ] Khi quyết định hình phạt có xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo tác động gia đình nộp lại số tiền 11.500.000 đồng, bồi thường trị giá xe cho anh Đạt xong; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo quy định tại các điểm b, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không tình tiết tăng nặng.
[ 5 ] Về trách nhiệm bồi thường và xử lý vật chứng: Vật chứng không thu hồi được nên không xử lý. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Ghi nhận anh Nguyễn Tấn Đạt đã nhận tiền bồi thường của ông Trần Văn Lợi số tiền 11.500.000 đồng tiền bồi thường xe bị mất trộm xong, không yêu cầu gì thêm.
[ 6 ] Về án phí bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
́
QUYÊT ĐI ̣NH:
Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 138; điểm b, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999.
1. Xử phạt bị cáo Trần Văn P: 03 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 1999. Tồng hợp hình phạt của bản án số: 100/2017/HSST ngày 29-12-2017 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã áp dụng điểm a, e, h, i khoản 1 Điều 104; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999: xử phạt bị cáo Trần Văn P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Bản án đã có hiệu lực pháp luật. Buộc bị cáo Trần Văn P chấp hành chung một hình phạt là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 02/11/2017.
2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 42 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Ghi nhận anh Nguyễn Tấn Đ đã nhận tiền bồi thường của ông Trần Văn L số tiền 11.500.000 đồng tiền bồi thường xe bị mất trộm xong, không yêu cầu gì thêm.
3. Về Xử lý vật chứng: Vật chứng không thu hồi được nên không xử lý.
4. Về án phi hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Văn P phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn)
́ đồng.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo Trần Văn P được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tinh Tây Ninh trong thở
̀ i ha ̣n 15 ngày kể từ ngày tuyên án . Người bị hại anh Nguyễn Tấn Đ, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn L vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Tân Châu; - CCTHADS huyện Tân Châu; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - THA phạt tù; - CQ điều tra CA huyện Tân Châu; - Sở tư pháp; - Nhà tạm giữ CA huyện Tân Châu. - VP Công an huyện Tân Châu; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Hồ Văn Cường |