vanban.org

Bản án 28/2018/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 22/05/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/05/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ vào điểm b Khoản 1 Điều 355; điểm e Khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; áp dụng Khoản 1 Điều 248; điểm h,p khoản 1, Điều 46; Khoản 1,2 Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Đ 10(mười) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, th…

Giao bị cáo Nguyễn Tiến Đ cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trường hợp bị cáo Nguyễn Tiến Đ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tiến Đ phạm tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào điểm b Khoản 1 Điều 355; điểm e Khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; áp dụng Khoản 1 Điều 248; điểm h,p khoản 1, Điều 46; Khoản 1,2 Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Đ 10(mười) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, th…
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 60 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2018/HSPT
Ngày 22 tháng 5 năm 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thanh Trà

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Sơn

Ông Trần Văn Thái

- Thư ký phiên tòa: Bà Khổng Thị Đức Hậu, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hằng, Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 26/2018/HSPT ngày 26 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo Nguyễn Tiến Đ do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2018/HSST ngày 13 tháng 02 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện L.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Tiến Đ, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn A, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; bố đẻ: Nguyễn Tiến G, sinh năm 1964; mẹ đẻ: Trần Thị I, sinh năm 1969; vợ, con: chưa có. Tiền án, tiề n sự : không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2017 đến ngày 02/01/2018 được thay thế biện pháp ngăn chặn. Hiện nay đang tại ngoại tại địa phương (có mặt).

Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo khác không có kháng cáo, không bị kháng nghị Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 18/12/2017, Nguyễn Tiến Đ, Hà Văn H, Nguyễn Văn N, Phạm Hoàng M (đều ở xã B, L, Vĩnh Phúc), Trần Văn T ở xã K, huyện L cùng Nguyễn Văn O ở thị trấn Q, huyện L ngồi chơi tại tàu chở cát BKS: VP-1708 của anh Hà Văn S ở xã B do H lái thuê và trông coi đang neo đậu trên dòng L thuộc thôn R, xã K. Đạt lấy kéo cắt 04 quân vị bằng vỏ bao thuốc lá, lấy 01 chiếc bát và 01 chiếc đĩa sứ có sẵn trên tàu rủ T và N đánh bạc ăn tiền dưới hình thức xóc đĩa, T và N đồng ý. Đ, T và N ngồi xuống chiếu và chăn đã được chải sẵn trên khoang buồng lái để đánh bạc, thống nhất đặt cửa từ 10.000đ đến 20.000đ một ván. Đ là người cầm cái đầu tiên. Đ, T và N đánh bạc được khoảng 10 phút thì có H và M vào tham gia đánh bạc, O ngồi xem không tham gia đánh bạc. Khoảng 10 phút sau có Nguyễn Văn P, La Văn C đến tham gia đánh bạc. Khoảng 05 phút sau Đ hết tiền nên ngồi ngoài xem, M thay Đ cầm cái. Sau đó có Nguyễn Văn E ở xã B đến tham gia đánh bạc. Nguyễn Văn D ở thôn R, xã K đến thu tiền dây buộc thấy vậy nên ngồi xem các đối tượng đánh bạc. T, H, H, M, P, C và E đánh bạc đến khoảng 10 giờ 40 phút cùng ngày bị Công an huyện L phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 11.865.000đ, 07 điện thoại di động và các phương tiện liên quan đến việc đánh bạc. Thu giữ trên người N 01 ví giả da có 2.140.000đ.

Quá trình bắt quả tang T và M bỏ chạy, đến ngày 19/12/2017 cả hai ra đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội. M tự nguyện giao nộp 200.000đ là tiền đánh bạc khi M bỏ chạy cầm theo.

Tại CQĐT, các bị cáo khai nhận rõ hành vi đánh bạc của mình như nêu trên và khai nhận: Khi đánh bạc Đ có 100.000đ, H có 10.000.000đ, N có 2.600.000đ , E có 565.000đ, P có 500.000đ, T có 440.000đ (trong đó có 20.000đ anh Nguyễn Văn C ở xã B đưa T thanh toán tiền dây buộc) đều sử dụng để đánh bạc. C không đem theo tiền nhưng vay 200.000đ của P để đánh bạc; M không đem theo tiền nhưng được T cho 50.000đ để M đánh bạc. Như vậy tổng số tiền các bị can đã và sẽ sử dụng đánh bạc là 14.205.000đ.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2018/HSST ngày 13 tháng 02 năm 2018 Tòa án nhân dân huyện L đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tiến Đ phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng Khoản 1, khoản 3 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Đ 10 (mười) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Thời gian tạm giữ, tạm giam của bị cáo Nguyễn Tiến Đ từ ngày 18/12/2017 đến 02/01/2018 được trừ vào thời hạn chấp hành án. Phạt Nguyễn Tiến Đ số tiền 4.000.000đ (Bốn triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn xử phạt tù, cho hưởng án treo, áp dụng hình phạt bổ sung, tính án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo cho các bị cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 23/02/2018 bị cáo Nguyễn Tiến Đ có đơn kháng cáo xin hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu và có quan điểm đề nghị: chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến Đ, sửa Bản án sơ thẩm theo hướng cho bị cáo hưởng án treo.

Bị cáo Nguyễn Tiến Đ đề nghị: Bị cáo luôn chấp hành tốt đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự. Khi tham gia đánh bạc ngày 18/12/2017 bị cáo tham gia thời gian ngắn sau đó không tham gia nữa. Hoàn cảnh gia đình khó khăn và là lao động chính trong gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến Đ làm trong thời hạn luật định, đơn hợp lệ nên được chấp nhận để xem xét giải quyết.

Về nội dung kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩ m, phúc thẩm các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo khác trong cùng vụ án, lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, hình thức mà các đối tượng Nguyễn Tiến Đ, Hà Văn H, Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn E, Trần Văn T, Nguyễn Văn P, La Văn C, Phạm Hoàng M đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền, với số tiền dùng vào việc đánh bạc là 14.205.000đ, cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận các bị cáo Nguyễn Tiến Đ, Hà Văn H, Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn E, Trần Văn T, Nguyễn Văn P, La Văn C, Phạm Hoàng M đã thực hiện hành vi phạm tội. Bản án sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội đánh bạc theo khoả n 1 Điề u 248 của Bộ luậ t hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Tiến Đ, Hộ i đồ ng xé t xử xé t thấy : Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trậ t tự công cộ ng được pháp luật bảo vệ, gây mấ t trậ t tự trị an và an toà n cho xã hộ i , làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình. Đây cũ ng là nguyên nhân phá t sinh cá c loạ i tộ i phạm khác trong xã hội. Do vậy phải xử phạt nghiêm nhằm mục đích giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

Với vai trò tham gia trong vụ án của bị cáo, Bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Tiến Đ mức án 10 tháng tù là phù hợp quy định của pháp luật. Tuy nhiên xét thấy tội phạm bị cáo thực hiện là tội ít nghiêm trọng, quá trình đánh bạc Nguyễn Tiến Đ tham gia thời gian ngắn sau đó dừng không chơi tiếp, số tiền của bị cáo dùng vào việc đánh bạc không lớn (100.000đ). Nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử luôn thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo có ba tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự và không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú ổn định, cụ thể rõ ràng. Có khả năng tự cải tạo và việc cải tạo của bị cáo tại địa phương không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Do vậy cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo cho bị cáo được hưởng án treo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh phúc đề nghị Hội đồng xét xử sửa Bản án sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Tiến Đ hưởng án treo là phù hợp quy định của pháp luật, cần chấp nhận.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến Đ được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào điểm b Khoản 1 Điều 355; điểm e Khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; áp dụng Khoản 1 Điều 248; điểm h,p khoản 1, Điều 46; Khoản 1,2 Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Đ 10(mười) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách 01(một) năm 08(tám) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Tiến Đ cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Trường hợp bị cáo Nguyễn Tiến Đ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

[2] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Tiến Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo , không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ