vanban.org

Bản án 28/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 31/10/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu N phạm tội “trộm cắp tài sản”.

Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 tịch thu tiêu huỷ một bao tải màu trắng kích thước 47 x 77 cm đã qua sử dụng. Án phí: Bị cáo Nguyễn Hữu N phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu N can tội "trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu N phạm tội “trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUYÊN HOÁ
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2017/HSST
Ngày: 31-10-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Toàn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông: Đinh Xuân Phầu

Ông: Thái Thiên Lương

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà:

Ông Đinh Quang Vịnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tuyên Hoá

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên toà: Ông Trần Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2017, tại trụ sở Uỷ ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2017/HSST ngày 02 tháng 10 năm 2017 đối với:

Bị cáo: Nguyễn Hữu N, sinh ngày 10/8/1992; nơi ĐKNKTT: Tổ dân phố A, phường B, thị xã C, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 9/12; con ông Nguyễn S, sinh năm 1973; con bà Đoàn Thị D, sinh năm: 1969; vợ: Đoàn Thị H, sinh năm 1994; con có 02 con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/8/2017 (Bị cáo tại ngoại có mặt).

Người bị hại: Anh Hà Văn L, sinh năm: 1974; nơi ĐKNKTT: Thôn H, xã P, huyện T, tỉnh Quảng Bình (vắng mặt có lý do).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Ông Đoàn Ngọc T, sinh năm: 1966; trú tại: Tổ dân phố A, phường B, thị xã C, tỉnh Quảng Bình (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Nguyễn Hữu N bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hoá truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 8 giờ 30 phút ngày 29/7/2017, Nguyễn Hữu N điều khiển xe mô tô BKS 73K2 - 7584 đến nhà anh Hà Văn L tại thôn H, xã P, huyện T, tỉnh Quảng Bình để thu mua phế liệu. Trong lúc tìm mua phế liệu, N phát hiện một cái sập gỗ không khoá. N dùng tay đẩy nắp sập lên thì thấy chiếc máy cưa gỗ cầm tay nhãn hiệu HUSQVARNA màu vàng nên đã nảy sinh ý định trộm cắp nhưng khi chuẩn bị lấy tài sản thì anh L phát hiện nên N không thực hiện được. N trả tiền cho anh L rồi chạy xe mô tô chở phế liệu đến để tại đường liên thôn. Khoảng 5 phút sau, N quay lại thấy nhà anh L không có người trông giữ nên N đến gian nhà bếp mở nắp sập lấy ra 01 chiếc cưa gỗ màu vàng bỏ vào bao tải đưa ra xe mô tô chở đi cất giấu tại bãi rác ở thôn U, xã V, huyện T, tỉnh Quảng Bình. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, N quay lại lấy chiếc máy cưa đưa đi tiêu thụ bị anh L phát hiện và yêu cầu N đến Công an xã H, huyện T, tỉnh Quảng Bình làm việc.

Tại Bản kết luận số 27/KLĐG-HDĐG ngày 31/7/2017 của Hội đồng định giá tài sản huyện Tuyên Hoá kết luận: 01 máy cưa gỗ loại cầm tay nhãn hiệu HUSQVARNA màu vàng dài 95 cm, phần lưỡi cưa bằng kim loại dài 60 cm có giá trị tại thời điểm mất là 8.708.650 đồng.

Vật chứng vụ án: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuyên Hoá đã thu giữ 01 máy cưa gỗ loại cầm tay nhãn hiệu HUSQVARNA màu vàng dài 95 cm, phần lưỡi cưa bằng kim loại dài 60 cm, chỗ rộng nhất dài 09 cm, 01 xe mô tô nhãn hiệu FANLIM mang BKS 73K2 – 7584, 01 bao tải màu trăng kích thước 47 x 77cm.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Hà Văn L và ông Đoàn Ngọc T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì.

Hành vi phạm tội của bị cáo N đã được cơ quan điều tra làm rõ. Tại Bản cáo trạng số: 27/THQCT-KSĐT-KT ngày 30/9/2017 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hoá đã truy tố Nguyễn Hữu N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu lời luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 138; các điểm g, h, p khoản 1 Điều 46, Điều 60 BLHS: Xử phạt Nguyễn Hữu N từ 6 - 9 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 - 18 tháng. Xử lý vật chứng: Tiêu huỷ bao tải màu trắng.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, người bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý, bảo vệ tài sản của người bị hại, Nguyễn Hữu N đã có hành vi lén lút lấy trộm tài sản của anh Hà Văn L 01 máy cưa gỗ loại cầm tay, tài sản mà N chiếm đoạt có giá trị tại thời điểm mất là 8.708.650 đồng.

Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội đó phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, về thời gian, địa điểm, loại tài sản và giá trị tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt, ý kiến của Kiểm sát viên. Do đó đã đủ cơ sở để khẳng định bị cáo Nguyễn Hữu N phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1, Điều 138 BLHS năm 1999 đúng như bản cáo trạng và quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hoá.

Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo đã cố ý trực tiếp chiếm đoạt tài sản của anh Hà Văn L, đã xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội cần được xử lý nghiêm. Vì vậy cần áp dụng khoản 1, Điều 138 BLHS năm 1999 để lên cho bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.

Tuy nhiên Hội đồng xét xử cũng cần xem xét cho bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, quá trình điều tra và tại phiên toà đã khai báo thành khẩn. Vì vậy cần áp dụng điểm g, h, p khoản 1 Điều 46; Điều 60 BLHS năm 1999 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và chưa cần thiết phải cách ly mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục.

Vật chứng vụ án: Sau khi xác định chủ sở hữu, ngày 25/8/2017 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho anh Hà Văn L một máy cưa gỗ loại cầm tay nhãn hiệu HUSQVARNA màu vàng dài 95 cm, phần lưỡi cưa bằng kim loại và trả lại cho anh Đoàn Ngọc T 01 xe mô tô nhãn hiệu FANLIM mang BKS 73K2 – 7584. Việc xử lý vật chứng của cơ quan điều tra đảm bảo theo quy định của pháp luật. Đối với chiếc bao tải màu trắng kích thước 47 x 77 cm không còn giá trị sử dụng cần áp dụng điểm a, đ khoản 2 Điều 76 BLTTHS năm 2003 để tiêu huỷ.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Hà Văn L không yêu cầu gì.

Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu N phạm tội “trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; các điểm g, h, p khoản 1 Điều 46; Điều 60 Bộ luật Hình sự năm 1999 xử phạt Nguyễn Hữu N 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Nguyễn Hữu N cho Uỷ ban nhân dân phường phường B, thị xã C, tỉnh Quảng Bình giám sát giáo dục trong thời gian thách của án treo. Trường hợp bị cáo chuyển nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

2. Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 tịch thu tiêu huỷ một bao tải màu trắng kích thước 47 x 77 cm đã qua sử dụng.

3.Án phí: Bị cáo Nguyễn Hữu N phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vắng mặt người bị hại. Tuyên bố bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (31/10/2017). Đối với anh Hà Văn L thời hạn trên tính từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Đã giải thích chế định án treo.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ