- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cá o Phạm Thị H phạm tội “Trộ m cắ p tài sản”.
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:28/2017/HSST Ngày 26/12/2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễ n Trọ ng Trườ ng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễ n Bỉnh Thái
Bà Lê Thị Xuân
-Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Hoàng Thị Anh Thơ
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Chu Đức Tuấn - Kiểm sát viên
Hôm nay, ngày 26 tháng 12 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyệ n Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2017/TLST-HS ngà y 23 tháng 11 năm 2017 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2017/HSST-QĐ ngà y 13 tháng 12 năm 2017 đối với bị cáo:
Phạm Thị H, sinh năm 1993
Nơi ĐKHKTT : xã Đ, huyện U, thành phố Hà Nội.
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Công nhân
Con ông Phạm Văn V, SN 1967 và bà Nguyễn Thị L, SN 1966.
Gia đình có 03 chị em, bị cá o là lớn nhấ t;
Có chồng là Quản Văn D, sinh năm 1992;
Có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2015
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
* Ngườ i bị hạ i: Chị Đỗ Thị Q, sinh năm 1994 (Vắng mặ t)
Đị a chỉ : thôn K, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
NỘ I DUNG VỤ Á N
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 30 phút, ngày 29/9/2017 tại xưởng sản xuất của Công ty K – Tech Vina, lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản. Phạm Thị H đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoai di động nhãn hiệu Iphone 7 màu H của chị Đỗ Thị Q ở thôn K, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang làm công nhân cùng phân xưởng với H. Ngày 31/8/2017 Hộ i đồ ng đị nh giá tà i sả n trong tố tụ ng hì nh sự huyệ n Tiên Du kết luận: 01 chiếc điện thoai di động nhãn hiệu Iphone 7 màu H số Imei 353802081628978 đã qua sử dụng có giá trị còn lại là 14.000.000 đồ ng.
Vớ i nộ i dung trên , Cáo trạng số 132/CTr- VKS ngày 23/11/2017 của Viện kiể m sá t nhân dân huyệ n Tiên Du , tỉnh Bắc Ninh quyết định: Truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Tiên Du để xét xử Phạm Thị H về tộ i “Trộ m cắ p tà i sả n” quy đị nh tạ i khoả n 1 Điề u 138 Bộ luậ t hì nh sự .
Tại phiên tòa hôm nay bị cá o H khai nhận: Bị cáo làm công nhân sửa chữa linh kiện điện tử trong xưởng sản xuất của Công ty K – Tech Vina. Khoảng 5 giờ sáng ngày 29/8/2017 chi Đỗ Thị Q làm cùng phân xưởng với bị cáo có đến hỏi mượn sạc pin điện thoại để cắm sạc điện thoại Iphone 7 màu H, sau khi cắm sạc chị Q đi làm việc ở chỗ khác. Đến khoảng 6 giờ cùng ngày bị cáo đi ăn sáng về thấy điện thoại của chị Q vẫn đang cắm sạc nên bị cáo đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại trên bán lấy tiền. Thấy mọi người không để ý bị cáo đã rút sạc lấy điện thoại cất vào túi áo công nhân rồi đi vào nhà vệ sinh tắt nguồn, sau đó mang cất giấu vào ngăn tủ đựng đồ cá nhân của chồng bị cáo là anh D. Việc bị cáo cất điện thoại vào tủ đựng đồ của anh D, anh D không biết. Sau khi chị Q phát hiện mất điện thoại đã làm đơn trình báo Công an. Tại cơ quan điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo thấy hành vi trộm cắp là sai và hứa không tái phạm.
Người bị hại là chị Q được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa hôm nay, lời trì nh bà y tại cơ quan điều tra thể hiện : Ngày 29/8/2017 chị có bị mất 01 điện thoại Iphone 7 màu H nay chị đã nhận lại điện thoại trên và không có yêu cầ u gì về trá ch nhiệ m dân sự .
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo Cáo trạng số 132/CTr- VKS ngày 23/11/2017. Trong phần luận tội đã phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Thị H phạm tội “Trộ m cắ p tà i sả n”.
Căn cứ khoản 1 Điều 138; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 60 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Thị H từ 8 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về trách nhiệm dân sự : Không đề cậ p giả i quyế t
Bị cáo sau khi nghe luận tội của đạ i diệ n Việ n kiể m sá t nhân dân huyện Tiên Du thừa nhận có tội, không tranh luận mà chỉ xin giảm nhẹ hì nh phạ t.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bả n thân. Lời khai nhận tội của cá c bị cáo phù hợp với lời trình bày của người bị hại , vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 6 giờ sang, ngày 29/8/2017 tại xưởng sản xuất của Công ty K – Tech Vina, lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản. Phạm Thị H đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc điện thoai di động nhãn hiệu Iphone 7 màu H của chị Đỗ Thị Q trị giá 14.000.000đ. Hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấ u thà nh tộ i “Trộ m cắ p tà i sả n”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoả n 1 Điề u 138 Bộ luật hình sự . Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du truy tố đối với bị cáo là đúng người, đú ng tộ i, đú ng phá p luậ t.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội , đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Ngoài ra còn gây mất trật tự trị an, gây hoang mang, lo lắng cho những công nhân làm việc tại nơi xảy ra tội phạm. Do vậy cần á p dụ ng hình phạt tương xứng với hành vi bị cáo đã thự c hiệ n mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo là người có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai báo thành khẩn và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Như vậy, bị cáo được hưởng các tình tiế t giả m nhẹ trá ch nhiệ m hình sự quy định tại điểm h, p khoả n 1, Điều 46 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Từ nhữ ng phân tí ch đá nh giá nêu trên xé t thấ y bị cá o không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, trong khi lại có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06/11/2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bị cáo đủ điều kiện để được hưởng án treo. Vì vậy, không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, cho bị cáo hưởng sự khoan hồng của pháp luật, cải tạo tại địa phương cũng có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân sống có ích cho xã hội.
Về hì nh phạ t bổ sung : Xét điều kiện kinh tế bị cáo đang nuôi con nhỏ, Hộ i đồ ng xé t xử không á p dụ ng hì nh phạ t bổ sung phạ t tiền đối với bị cáo.
Về trá ch nhiệ m dân sự : Chị Q đã nhậ n lại điện thoại và không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên Hộ i đồ ng xé t xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cá o Phạm Thị H phạm tội “Trộ m cắ p tài sản”.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điề u 60 Bộ luật hình sự. Điề u 99 Bộ luậ t tố tụ ng hì nh sự . Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Phạm Thị H 10 (Mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo,thời gian thử thách 20 (Hai mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND xã Đ, huyện U, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 của Luật thi hành án.
3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt án.
| Nơi nhận; - TAND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND huyện Tiên Du; - Công an huyện Tiên Du; - Chi cục THADS huyện Tiên Du; - Những NTGTT; - Lưu HS, VP; | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨ M PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trọng Trƣờng |