- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Đ và Cao Thanh B phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tổ chức sử dụng…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bi cáo Nguyễn Văn Đ và Cao Thanh Bé T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG ——————— Bản án số: 279/2024/HS-ST Ngày 19-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thi Thu Vân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hoàn
2. Ông Phan Văn Cường
- Thư ký phiên tòa: Ông Trân Hông Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Trân Trong An - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 286/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 theo Quyết đinh đưa vụ án ra xét xử số 293/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với các bi cáo:
1. Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1993 tại tỉnh Nghê An; thường trú: Xóm C, xã T, huyên Đ, tỉnh Nghê An; chỗ ở: Khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiêp: Công nhân (cơ khi); trình độ hoc vấn: 12/12; quốc tich: Viêt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tinh: Nam; con ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thi H, sinh năm 1973 (đã chết); bi cáo có 01 em ruột, sinh năm 1999; bi cáo có con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; bi cáo bi bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/3/2024 đến nay; có măt
2. Cao Thanh B, sinh năm 1990 tại tỉnh Đông Tháp; thường trú: Tổ H, khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đông tháp; chỗ ở: 8 hẻm A P, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiêp: Công nhân; trình độ hoc vấn: 8/12; quốc tich: Viêt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tinh: Nam; con ông Cao Văn Í, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thi H1, sinh năm 1955; bi cáo có 03 anh, chi ruột, lớn nhất sinh năm 1980, nho nhất là bi cáo; bi cáo có vợ tên Đỗ Thi Kiều M, sinh năm 1995, con sinh năm 2016; tiền án: Không; tiền án, tiền sự: Không; bi cáo bi bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/3/2024 đến nay; có măt;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đên vụ án: Chi Đỗ Thi Kiều M, sinh năm 1995; thường trú: Ấp L, xã L, huyên H, tỉnh Đông Tháp; có yêu câu giải quyết vắng măt.
Người chứng kiên: ông Lê Xuân T; có yêu câu giải quyết vắng măt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liêu có trong hô sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bi cáo Nguyễn Văn Đ và bi cáo Cao Thanh B có quen biết nhau và là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine.
Khoảng 19 giờ ngày 24/3/2024 Đ sử dụng điên thoại di động nhắn tin cho B và hẹn găp nhau tại khu vực đường N, phường A, thành phố D để cùng nhau đi mua ma túy về sử dụng thì B đông ý. Bé điều khiển xe mô tô nhãn hiêu Air Blade màu cam đen biển số 66H1-154.30 đến đường N găp Đ; Đ và B thống nhất, B bo tiền ra trước để mua ma túy, hết bao nhiêu chia ra Đ sẽ trả sau vì hiên tại Đ không có tiền. Bé lấy 500.000 đông đưa cho Đ, Đ câm tiền rôi điên thoại cho một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lich) hoi mua 500.000 đông ma tuý đá thì được hẹn đến khu vực đường B, quận T, thành phố Hô Chi Minh để giao ma tuý. Sau đó, B điều khiển xe mô tô trên chở Đ đến điểm hẹn, chờ một lúc thì có 01 người đàn ông đeo khẩu trang đến đưa cho Đ 01 túi đựng khẩu trang, bên trong có 01 no thủy tinh (trong no thủy tinh có chất màu nâu), gắn sẵn vào một cái nắp nhựa và ống hút nhựa, 02 đoạn ống hút nhựa hàn kin hai đâu chứa chất tinh thể màu trắng và 01 gói nylon hàn kin chứa chất tinh thể màu trắng, Đ lấy 500.000 đông đưa cho người đàn ông. Sau khi mua được ma túy, Đ cất giấu vào túi đeo chéo mang trên người, rôi B điều khiển xe mô tô chở Đ về nhà nghỉ S1, khu phố B, phường A, thành phố D. Tại đây, Đ hoi thuê phòng số 102 với giá tiền 170.000 đông, B lấy tiền đưa cho Đ trả tiền thuê, số tiền này Đ và B cũng thống nhất chia ra, Đ sẽ trả sau cho B. Khi vào phòng Đ lấy trong túi đeo ra đưa cho B no thủy tinh, nắp nhựa, ống hút nhựa, B câm gắn vào vo chai nhựa thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy rôi đốt lửa nấu lên cả hai sử dụng hết số ma tuý đá trong no thủy tinh. Sau đó, Đ lấy 02 đoạn ống hút hàn kin chứa ma túy đá từ trong túi đeo chéo ra để trên bàn rôi lấy 01 đoạn ống hút chứa ma tuý đá cắt ra đưa cho B, B câm lấy đổ vào no thuỷ tinh một nửa, số còn lại B đưa lại cho Đ hàn kin lại rôi cất giấu cả 02 đoạn ống hút chứa ma túy đá trong túi quân của Đ.
Khoảng 00 giờ 05 phút ngày 25/3/2024, Đ và B đang sử dụng ma túy thì bi lực lượng Công an phường A, thành phố D kiểm tra phát hiên bắt quả tang thu giữ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, bên trong no thủy tinh còn lại một it ma túy đá màu nâu, thấy vậy Đ lấy từ trong túi quân ra 02 đoạn ống hút nhựa chứa ma túy đá giao nộp cho Cơ quan Công an. Kiểm tra phòng 102 lực lượng Công an còn phát hiên trong túi đeo chéo của Đ có 01 túi đựng khẩu trang, bên trong túi đựng khẩu trang có 01 gói nylon hàn kin chứa chất tinh thể màu trắng nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng tang vật, lập hô sơ chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D để điều tra xử lý theo thẩm quyền.
- Tại Bản kết luận giám đinh số 1617/KL-KTHS(MT) ngày 02 tháng 04 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:
Mẫu chất bám dinh màu nâu gửi giám đinh là ma túy, loại Methamphetamie, có khối lượng 0,0839 gam (M1); các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám đinh thu giữ của Đ và B đều là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,3201 gam (M2); 0,4183 gam (M3).
- Tại Bản kết luận giám đinh số 1951/KL-KTHS(KTS) ngày 22 tháng 04 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:
Trong mẫu vật A1 có 03 nhật ký cuộc goi ngày 24/3/2024 (có phụ lục kèm theo); Không tìm thấy tin nhắn SMS ngày 24/3/2024. Trong mẫu vật A2 có 01 tập tin video tên: 5283322825932 (dung lượng 4,47 Mb, thời lượng: 01 phút 04 giây, mã MD5; 9BB178A455E0E33FA869BD2FCA5C8BE7) được trich xuất thành 04 khung hình.
Vật chứng thu giữ: Ma túy thu giữ có khối lượng 0,0839 gam (M1); 0,3201 gam (M2); 0,4183 gam (M3); 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gôm chai nhựa có gắn no thủy tinh, ống hút nhựa; 01 túi đeo chéo màu đen; 01 túi nhựa loại đựng khẩu trang; 01 xe mô tô kiểu dáng Airblade biển số 66H1 - 154.30, số khung RLHJF4614EZ436587; số máy JF46E7064821; 01 điên thoại di động Iphone 7 Plus gắn sim số 0385.479452.
Đối với hành vi của người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lich) bán ma túy cho bi cáo Nguyễn Văn Đ và Cao Thanh B, Cơ quan CSĐT Công an thành phố D, tiếp tục điều tra xác minh khi nào làm rõ xử lý sau.
Đối với điên thoại Nokia 1200 gắn sim số 0903532913 của Cao Thanh B sử dụng thực hiên hành vi phạm tội, không thu hôi được.
Bản Cáo trạng số 297/CT-VKS-DA ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Viên kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố các bi cáo Nguyễn Văn Đ, Cao Thanh B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, trong phân tranh luận đại diên Viên kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết đinh truy tố và đề nghi Hội đông xét xử:
+ Ap dụng điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự để xử phạt bi cáo Nguyễn Văn Đ và bi cáo Cao Thanh B, mỗi bi cáo từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
+ Ap dụng khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự để xử phạt bi cáo Nguyễn Văn Đ và bi cáo Cao Thanh B, mỗi bi cáo từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Xử lý vật chứng:
- Đối với 03 bì thư được niêm phong bên ngoài ghi số 1617M1/PC09, bên trong chứa thành phân ma túy còn lại sau giám đinh M1= 0,0442 gam; M2= 0,2852 gam; M3= 0,3968 gam, loại Methamphetamine; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gôm chai nhựa có gắn no thủy tinh, ống hút nhựa; 01 túi đeo chéo màu đen; 01 túi nhựa loại đựng khẩu trang và sim số 0385.479452; cân tich thu tiêu hủy.
- Đối với 01 xe mô tô kiểu dáng Airblade biển số 66H1 - 154.30, số khung RLHJF4614EZ436587; số máy JF46E7064821 thu giữ của bi cáo Cao Thanh B, do bi cáo đứng tên đăng ký xe là tài sản chung của vợ chông (chi Đỗ Thi Kiều M), cân tich thu sung quỹ nhà nước giá tri ½ chiếc xe.
- Đối với 01 điên thoại di động Iphone 7 Plus do bi cáo Nguyễn Văn Đ sử dụng vào viêc phạm tội cân tich thu sung quỹ Nhà nước.
Tại phiên tòa, các bi cáo không tranh luận với đại diên Viên kiểm sát trong phân nói lời sau cùng bi cáo xin Hội đông xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bi cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liêu trong hô sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đông xét xử nhận đinh như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết đinh tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viên kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiên đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy đinh của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình tố tụng, các bi cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về hành vi, quyết đinh của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết đinh tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiên là hợp pháp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chi Đỗ Thi Kiều M, người làm chứng ông Lê Xuân T đều có đơn yêu câu giải quyết vắng măt và sự vắng măt không làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án. Do đó, Hội đông xét xử tiến hành xét xử vắng măt theo quy đinh tại các Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Căn cứ vào lời khai của bi cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa, lời khai của người tham gia tố tụng, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liêu, chứng cứ khác có trong hô sơ, có đủ cơ sở xác đinh: Ngày 24/3/2024, bi cáo Nguyễn Văn Đ và Cao Thanh B là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, cùng rủ nhau góp tiền mua ma túy để sử dụng, sau khi mua được ma túy, Đ và B thuê nhà nghỉ tại khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương để sử dụng. Đến 0 giờ 05 phút ngày 25/3/2024, khi đang sử dụng ma túy thì lực lượng Công an kiểm tra phát hiên bắt quả tang. Ma túy thu giữ của Đ và B gôm: trong no thủy tinh Đ và B đang sử dụng ký hiêu M1 = 0,0839 gam; trong túi đeo chéo của Đức M = 0,4183 gam và trong túi quân của Đ M3 = 0,3201 gam, tất cả đều là ma túy, loại Methamphetamine. Hành vi rủ rê, góp tiền, cùng đi mua ma túy, thuê nhà nghỉ để sử dụng trái phép chất ma túy, ma túy thu trong no thủy tinh đang sử dụng có khối lượng M1 = 0,0839 gam, loại Methamphetamine của Nguyễn Văn Đ và Cao Thanh B, đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy đinh tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Hành vi cất giấu ma tuý trong túi quân, có khối lượng M3 = 0,3201 gam loại Methamphetamine và trong túi đeo chéo của Đ M2 = 0,4183 gam loại Methamphetamine, có tổng khối lượng M = 0,7384 gam loại Methamphetamine, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy đinh tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng số 297/CT-VKS-DA ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Viên kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với các bi cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tinh chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bi cáo Nguyễn Văn Đ, Cao Thanh B thực hiên là nghiêm trong đã xâm phạm đến công tác quản lý độc quyền của Nhà nước về kiểm soát, quản lý, sử dụng các chất ma tuý; xâm phạm đến sức khoẻ con người, gây mất trật tự tri an tại đia phương. Các bi cáo thực hiên hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Do đó, cân xử phạt các bi cáo hình phạt tương xứng với tinh chất mức độ tội phạm đã thực hiên, có xét đến vai trò của các bi cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiêm hình sự, nhân thân của các bi cáo đủ để cải tạo các bi cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Vụ án có tinh chất đông phạm là giản đơn, không có sự cấu kết chăt chẽ, không có sự bàn bạc, phân công vai trò cụ thể khi thực hiên hành vi phạm tội nên không xem là phạm tội có tổ chức.
Tình tiết tăng năng trách nhiêm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiêm hình sự của bi cáo được xem xét khi quyết đinh hình phạt: Quá trình tố tụng, các bi cáo Nguyễn Văn Đ, Cao Thanh B thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiêm hình sự quy đinh tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đông xét xử xem xét áp dụng.
Về nhân thân: Các bi cáo Nguyễn Văn Đ, Cao Thanh B là đối tượng nghiên ma túy; chưa có tiền án, tiền sự.
Về hình phạt:
- Hình phạt chinh: Xét các bi cáo phạm tội nghiêm trong, đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý, các bi cáo là người nghiên ma túy đông thời hành vi phạm tội của các bi cáo ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại đia phương. Vì vậy Hội đông xét xử quyết đinh áp dụng hình phạt tù đối với các bi cáo, cách ly các bi cáo ra khoi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo các bi cáo thành công dân có ich cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
- Hình phạt bổ sung: Theo quy đinh tại tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể bi phạt tiền từ 5.000.000 đông đến 500.000.000 đông, cấm đảm nhiêm chức vụ, cấm hành nghề hoăc làm công viêc nhất đinh từ 01 năm đến 05 năm hoăc tich thu một phân hoăc toàn bộ tài sản” và khoản 5 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể bi phạt tiền từ 50.000.000 đông đến 500.000.000 đông, phạt quản chế, cấm lưu trú từ 01 năm đến 05 năm hoăc tich thu một phân hoăc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, áp dụng phạt tù cũng đủ để răn đe, giáo dục các bi cáo nên Hội đông xét xử quyết đinh không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bi cáo
Xử lý vật chứng:
- Đối với 03 bì thư được niêm phong bên ngoài ghi số 1617M1/PC09, bên trong chứa thành phân ma túy còn lại sau giám đinh M1= 0,0442 gam; M2= 0,2852 gam; M3= 0,3968 gam, loại Methamphetamine; là vật chứng của vụ án, thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cân tich thu, tiêu hủy;
- Đối với 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gôm chai nhựa có gắn no thủy tinh, ống hút nhựa; 01 túi đeo chéo màu đen; 01 túi nhựa loại đựng khẩu trang và sim số 0385.479452; là công cụ, phương tiên dùng vào viêc phạm tội cân tich thu, tiêu hủy;
- Đối với 01 xe mô tô kiểu dáng Airblade biển số 66H1 - 154.30, số khung RLHJF4614EZ436587; số máy JF46E7064821, dung tich 124 cm3 thu giữ của bi cáo Cao Thanh B, do bi cáo đăng ký đứng tên chủ sở hữu trong thời ky hôn nhân, là tài sản chung của vợ chông (chi Đỗ Thi Kiều M) nên cân tich thu sung vào ngân sách nhà nước giá tri ½ chiếc xe;
- Đối với 01 điên thoại di động Iphone 7 Plus, thu giữ của bi cáo Nguyễn Văn Đ là công cụ, phương tiên dùng vào viêc phạm tội cân tich thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với hành vi của người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lich) bán ma túy cho các bi cáo Nguyễn Văn Đ, Cao Thanh B, Cơ quan CSĐT Công an thành phố D, tiếp tục điều tra xác minh khi nào làm rõ xử lý sau là đúng quy đinh.
Đối với điên thoại Nokia 1200 gắn sim số 0903532913 của bi cáo Cao Thanh B sử dụng thực hiên hành vi phạm tội hiên không thu hôi được, Hội đông xét xử không xem xét giải quyết.
An phi hình sự sơ thẩm: Các bi cáo phải nộp theo quy đinh của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bi cáo Nguyễn Văn Đ và Cao Thanh Bé T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1.1 Ap dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bi cáo Nguyễn Văn Đ, bi cáo Cao Thanh B, mỗi bi cáo 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tinh từ ngày 25/3/2024.
1.2 Ap dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bi cáo Nguyễn Văn Đ, bi cáo Cao Thanh B, mỗi bi cáo 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tinh từ ngày 25/3/2024.
Tổng hợp hình phạt cả 02 tội, buộc bi cáo Nguyễn Văn Đ, bi cáo Cao Thanh B, mỗi bi cáo chấp hành hình phạt tù 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tinh từ ngày 25/3/2024.
2. Xử lý vật chứng: Ap dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tich thu, tiêu hủy: 03 bì thư được niêm phong bên ngoài ghi số 1617M1/PC09, bên trong chứa thành phân ma túy còn lại sau giám đinh M1= 0,0442 gam; M2= 0,2852 gam; M3= 0,3968 gam, loại Methamphetamine; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gôm chai nhựa có gắn no thủy tinh, ống hút nhựa; 01 túi đeo chéo màu đen; 01 (một) túi nhựa loại đựng khẩu trang và 01 (một) sim số 0385.479452.
- Tich thu sung vào Ngân sách Nhà nước:
+ ½ giá tri xe mô tô kiểu dáng Airblade biển số 66H1 - 154.30, số khung RLHJF4614EZ436587; số máy JF46E7064821, dung tich 124 cm3 do bi cáo Cao Thanh B đứng tên sở hữu, trả lại cho Đỗ Thi Kiều M ½ giá tri xe mô tô trên;
+ 01 điên thoại di động Iphone 7 Plus.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30 tháng 8 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An)
3. Về án phi hình sự sơ thẩm: Ap dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghi quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy đinh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phi và lê phi Tòa án.
Các bi cáo Nguyễn Thành Đ1 và Cao Thanh B, mỗi bi cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đông án phi hình sự sơ thẩm.
Các bi cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng măt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoăc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy đinh của pháp luật./. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND thành phố Dĩ An;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Công an thành phố Dĩ An;
- Chi cục THA dân sự thành phố Dĩ An;
- Trại tạm giam CA tỉnh BD;
(Đã ký)
- TAND tỉnh BD;
- UBND nơi bi cáo cư trú;
- Phòng PV 06 CA tỉnh BD;
- Phòng PC 10 CA tỉnh BD;
Đao Thi Thu Vân
- Người tham gia tố tụng;
- Sở tư pháp tỉnh Bình Dương; -VKS nhân dân tỉnh Bình Dương;
- Lưu: VT, HS.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ DĨ AN
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH BÌNH DƯƠNG
Số: 56/2024/TB-TA
Dĩ An, ngày 21 tháng 10 năm 2024
THÔNG BÁO
SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN
Căn cứ các Điều 45, 260 và 261 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Xét thấy Bản án hình sự sơ thẩm số: 279/2024/HS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương có sai sót cân được sửa chữa, bổ sung như sau:
- Tại các dòng thứ 13, 14 từ dưới lên trên trang 6 của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi: “1. Tuyên bố các bi cáo Nguyễn Văn Đ và Cao Thanh Bé T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Tại các dòng thứ 18, 19 từ dưới lên trên trang 6 của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi: “Các bi cáo Nguyễn Thành Đ1 và Cao Thanh B, mỗi bi cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đông án phi hình sự sơ thẩm”.
Nay được sửa chữa, bổ sung như sau:
- Tại các dòng thứ 13, 14 từ dưới lên trên trang 6 của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi: “1. Tuyên bố các bi cáo Nguyễn Văn Đ va Cao Thanh B phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Tại các dòng thứ 18, 19 từ dưới lên trên trang 6 của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi: “Các bi cáo Nguyễn Văn Đ và Cao Thanh B, mỗi bi cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đông án phi hình sự sơ thẩm”.
| Nơi nhận: - Bi cáo; 1 - VKSND TP Dĩ An; 1 - Công an TP Dĩ An; 2 - Chi cục THADS TP Dĩ An; 1 - Trại tạm giam CA tỉnh BD; 1 - TAND tỉnh Bình Dương; 1 - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương; 1 - UBND cấp xã nơi bi cáo cư trú; 1 - Phòng PV 06 CA tỉnh BD; 1 - Phòng PC 10 CA tỉnh BD; 1 - Lưu: VT, HSVA. 2 | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đao Thi Thu Vân |