vanban.org

Bản án 277

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Trí Đạt - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Baûn aùn soá: 277/2021/HS-ST
Ngaøy 20 - 5 - 2021

NHAÂN DANH

NÖÔÙC COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM

TOØA AÙN NHAÂN DAÂN THÀNH PHỐ B - TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Dung.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Thị Thìn.

Ông Trần Văn Chánh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tuyền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Võ Hồng Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 234/2021/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 247/2021/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên bị cáo: Nguyễn Trí Đ, sinh năm 1997, tại Hà Tĩnh (có mặt); nơi cư trú: thị trấn Thạch H, huyện Thạch H, tỉnh Hà Tĩnh; tạm trú: xã Long Đức, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trí H, sinh năm 1971 và bà Đặng Thị Th, sinh năm 1974; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không.

Bị bắt, tạm giữ từ ngày 20/12/2020, đến ngày 28/12/2020 bị khởi tố bị can và được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tháng 12 năm 2020, khi tham gia mạng xã hội Facebook thì Nguyễn Trí Đ thấy có 01 nhóm mua bán pháo qua mạng tên “Pháo Hoa” nên Đ đã nảy sinh ý định đặt mua pháo trên mạng để bán lại kiếm lời. Thực hiện ý định trên, Đ lập 01 tài khoản Facebook tên “Duy Lê” và đăng thông tin bán pháo để ai muốn mua pháo sẽ liên lạc với Đ qua tài khoản này. Ngày 18/12/2020, Đ nhận được tin nhắn trên Facebook của một người không rõ họ tên, địa chỉ đặt mua 02 hộp pháo loại 49 ống/1 hộp và 07 bịch pháo banh (dạng tròn) loại 100 viên/1 bịch và đề nghị giao đến khu vực sân bóng đá tỉnh Đồng Nai thì Đ trả lời đồng ý và thỏa thuận giá bán pháo 7.850.000đồng (Bảy triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng). Sau đó, Đ nhắn tin vào tài khoản Facebook “Pháo Hoa” đặt mua số pháo trên thì được 01 người không rõ họ tên, địa chỉ trả lời có số lượng pháo như Đ yêu cầu. Thấy vậy, Đ sử dụng tài khoản zalo gọi điện thoại liên lạc với người bán pháo thì người này thỏa thuận giá của số pháo trên 7.000.000đồng (Bảy triệu đồng) và sẽ giao pháo cho Đ tại khu vực đường Phạm Văn Chiêu, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh vào trưa ngày 20/12/2020. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 20/12/2020, Đ khiển xe mô tô hiệu Wave, biển số 38M1-235.15 đến điểm hẹn thì được 01 người không rõ họ tên, địa chỉ đến giao cho Đ 02 hộp pháo loại 49 ống/1 hộp và 07 bịch pháo banh (dạng tròn) loại 100 viên/1 bịch có tổng khối lượng là 6,5 kilôgam. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi Đ đang chở số pháo trên đi đến khu vực đường N1, khu phố 7, phường Thống Nhất, thành phố B để giao cho người mua thì bị Tổ tuần tra của Công an phường Thống Nhất, thành phố B phát hiện và lập biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang chuyển đến Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B điều tra, xử lý.

Tại Bản kết luận giám định số: 14/C09B ngày 21/12/2020 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận: 02 hộp pháo loại 49 ống/1 hộp là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ và có tổng khối lượng là 3,3 kilôgam, 07 bịch pháo banh (dạng tròn) là pháo nổ và có tổng khối lượng là 3,2 kilôgam.

Vật chứng của vụ án:

- 01 xe mô tô hiệu Wave, biển số 38M1-235.15 của Nguyễn Trí Đ sử dụng vào việc phạm tội.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, số IMEI 355357083673645 của Nguyễn Trí Đ sử dụng vào việc phạm tội.

- 02 hộp pháo loại 49 ống/1 hộp và 07 bịch pháo banh (dạng tròn) loại 100 viên/1 bịch có tổng khối lượng là 6,5 kilôgam.

Bản cáo trạng số: 257/CT-VKSBH ngày 13/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố bị cáo Nguyễn Trí Đ về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 và khoản 2 Ñieàu 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Trí Đ từ 01 (một) năm tù đến 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Tòa án nhân dân thành phố B tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy 02 hộp pháo loại 49 ống/1 hộp và 07 bịch pháo banh (dạng tròn) còn lại sau khi giám định đã được niêm phong.

- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô hiệu Wave, biển số 38M1-235.15 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, số IMEI 355357083673645 của bị cáo Nguyễn Trí Đ sử dụng vào việc phạm tội.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, các chứng cứ khác có tại hồ sơ và cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố. Từ đó đã có đủ cơ sở kết luận: Ngày 20/12/2020, bị cáo Nguyễn Trí Đ đã thực hiện hành vi buôn bán hàng cấm là 02 hộp pháo loại 49 ống/1 hộp và 07 bịch pháo banh (dạng tròn) loại 100 viên/1 bịch có tổng khối lượng là 6,5 Kilogram thì bị bắt giữ để điều tra, xử lý.

Tại Bản kết luận giám định số: 14/C09B ngày 21/12/2020 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận: 02 hộp pháo loại 49 ống/1 hộp là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ và có tổng khối lượng là 3,3 kilôgam, 07 bịch pháo banh (dạng tròn) là pháo nổ và có tổng khối lượng là 3,2 kilôgam.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế. Nên cần phải có một mức án nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, gia đình có công cách mạng ông Đặng Công Toản ông ngoại bị cáo được tặng huân chương kháng chiến hạng ba đã có công lao kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bà Dương Thị Hòa bà ngoại bị cáo được tặng huân chương kháng chiến hạng ba đã có công lao kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bà Đặng Thị Thu mẹ bị cáo bị bệnh ung thư tuyến giáp. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng trong thời gian được tại ngoại chấp hành nghiêm quy định pháp luật tại địa phương cư trú, nên xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà căn cứ quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn, cho bị cáo Nguyễn Trí Đ được hưởng án treo cũng đủ có tác dụng giáo dục bị cáo, đồng thời cũng thể hiện được sự nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) hộp pháo nổ loại 49 ống/ hộp và 07 bịch pháo banh (dạng tròn) còn lại sau khi giám định đã được niêm phong.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) xe mô tô hiệu Wave, biển số 38M1-235.15, số khung: 3906HY015041; số máy: JA39E0015092 và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, số Imei: 355357083673645 của bị cáo Nguyễn Trí Đ sử dụng vào việc phạm tội.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Đồng Nai).

Đối với đối tượng đặt mua pháo và đối tượng bán pháo cho bị cáo Nguyễn Trí Đ qua tài khoản Facebook do chưa rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý sau.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Trí Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYEÁT ÑÒNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trí Đ phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Áp dụng khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trí Đ 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tính từ ngày tuyên án ngày 20/5/2021 và thực hiện nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

Giao bị cáo Nguyễn Trí Đ cho Ủy ban nhân dân xã Long Đức, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) hộp pháo nổ loại 49 ống/ hộp và 07 bịch pháo banh (dạng tròn) còn lại sau khi giám định đã được niêm phong.

- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 (một) xe mô tô hiệu Wave, biển số 38M1-235.15, số khung: 3906HY015041; số máy: JA39E0015092 và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, số Imei: 355357083673645 của bị cáo Nguyễn Trí Đ sử dụng vào việc phạm tội.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Đồng Nai).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Trí Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ