vanban.org

Bản án 277/2022/HS — Hình sự

TAND Q. Nam Từ Liêm, TP. Hà Nội Tuyên án 15/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm b, khoản 2 Điều 255; Điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Th phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Th 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/01/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Th phạm tội "Tổ chức sử dựng trái phép chất ma túy" - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ s…"
  • Tòa quyết gì? Điểm b, khoản 2 Điều 255; Điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NAM TỪ LIÊM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 277/2022/HS-ST
Ngày: 15/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thúy Anh;

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Bá Huynh

Ông Nguyễn Việt Chiến

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thùy Dung, Cán bộ Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Ông Lương Duy Bằng, Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 12 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 287/2022/TLST-HS ngày 23/11/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 327/2022/QĐXXST-HS ngày 29/11/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị Th

Sinh năm: 2000

Tên gọi khác: Không

HKTT: Thôn H, xã P, huyện L, tỉnh Y.

Nghề nghiệp: Lao động tự do

Trình độ văn hóa: 12/12

Quốc tịch: Việt Nam

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Không

Họ tên bố: Nguyễn Văn H

- Đã chết

Họ tên mẹ: Vũ Thị H1

- SN: 1978

Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con lớn;

Chồng, con: Chưa có

Tiền án, tiền sự: Không

Tạm giữ từ ngày 03/01/2022. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 01h30 phút ngày 02/01/2022, tổ công tác Công an phường M tiến hành kiểm tra phòng 505 số nhà 2X ngõ 1XX đường Đ, phường M, quận N, thành phố H phát hiện trong phòng có Nguyễn Thị Th, Lương Thị Q (sinh năm 2000, HKTT: Thôn 1 T, xã P, huyện L, tỉnh Y), Phạm Thị Mai P (sinh năm 1993, HKTT: Thôn H, xã P, huyện L, tỉnh Y), Phạm Thị T.A (sinh năm 1998, HKTT: Thôn H, xã P, huyện L, tỉnh Y) và Yeon Jung H (Sinh năm: 1995, quốc tịch: Hàn Quốc) đang mở nhạc và sử dụng bóng cười đồng thời phát hiện trên mặt bàn có một đĩa sứ màu trắng hình tròn chứa bột tinh thể màu trắng; 01 tẩu hút cuốn bằng tờ tiền 10.000 đồng và một thẻ card nhựa màu trắng. Tại chỗ các đối tượng Th, Q, P, H khai nhận trên đĩa sứ là ma túy Ketamine của các đối tượng sử dụng từ tối ngày 27/12/2021 còn lại chưa sử dụng hết còn T.A khai mới đến chơi vào ngày 01/01/2022 nên không biết việc sử dụng ma túy này. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản, dẫn giải các đối tượng đến bàn giao Đội CSĐTTP về ma túy Công an quận Nam Từ Liêm để điều tra làm rõ.

Vật chứng thu giữ:

- 01 đĩa sứ màu trắng hình tròn đường kính khoảng 26cm trong lòng đĩa chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy;

- 01 tẩu hút được quấn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng;

- 01 thẻ card màu trắng;

- 01 loa kéo loại JBZ;

- 10 bình kim loại hình trụ.

- 01 điện thoại kiểu dáng Iphone 13 Pro max màu xanh gắn sim số: 0898.572.XXX.

* Tại bản kết luận giám định số 293/KLGĐ-PC09 ngày 09/01/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an thành phố Hà Nội xác định: Tinh thể màu trắng thu trên 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng đường kính 26cm là ma túy loại Ketamine, khối lượng: 0,020 gam; 01 tẩu hút quấn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 01 thẻ nhựa màu trắng đều có dính ma túy loại Ketamine.

Quá trình điều tra xác định:

Nguyễn Thị Th, Phạm Thị Mai P, Lương Thị Q có quen biết Yeon Jung H và Kim Hee J (quốc tịch Hàn Quốc). Th là bạn gái của H, Q là bạn gái của J. Tháng 7/2021, H và Th thuê phòng 505, số nhà 2X ngõ 1XX Đ, phường M, quận N, thành phố H để Th ở (H thỉnh thoảng đến ngủ qua đêm), tiền thuê phòng hàng tháng do H trả. P thuê phòng 504 cùng số nhà 2X ngõ 1XX Đ (đối diện phòng của Th).

Chiều tối ngày 27/12/2021, Q và J đi chơi ở Phú Quốc về mua hải sản mang đến phòng 504 của P và tổ chức ăn uống chia tay J để ngày 28/12/2021 J về Hàn Quốc. Trong lúc ăn, J nói muốn sử dụng ma túy “Ke” (nói bằng tiếng Hàn Quốc), Q phiên dịch lại cho Th và P thì cả ba đồng ý mua ma túy về sử dụng. Th nói biết chỗ mua nên sẽ tự liên hệ. J nói chi phí hết bao nhiêu thì J và H mỗi người chịu một nửa. Lúc này người yêu của Th là H đi làm chưa về nên cả nhóm bàn bạc thống nhất trước, rồi Th nói lại cho H sau. Sau đó, Th nhắn tin cho H bảo đi làm về sớm để ăn uống chia tay J. Thống nhất xong, Th liên lạc qua ứng dụng Messenger của Phạm Thị V.A (sinh năm 1992; HKTT: Số X ngách Y ngõ chùa L, phường C, quận H, thành phố H) hỏi mua 01 chỉ Ketamine, V.A báo giá 3.300.000 đồng. Th dùng tài khoản số 19035076343XXX mang tên Nguyễn Thị Th mở tại ngân hàng Techcom Bank chuyển số tiền trên đến tài khoản số 19034425252XXX mang tên Phạm Thị V.A mở tại ngân hàng Techcom Bank. Khoảng 21h30 phút cùng ngày, Th xuống cửa nhà 2B nhận từ một nam thanh niên shiper (không xác định được nhân thân lai lịch) một gói nilon bên trong có chứa ma túy “Ke”, Th mang lên phòng 505 để ở bàn trang điểm rồi sang phòng 504, cả nhóm ngồi nói chuyện chờ H đến. Khoảng hơn 22h00 cùng ngày H đi làm về thì mọi người cùng đi về phòng 505. Th lấy đĩa sứ dùng máy sấy tóc sấy cho nóng đĩa còn P là người lấy túi “Ke” đổ ra đĩa rồi dùng thẻ card nhựa màu trắng có sẵn “xào” (miết nhuyễn và kẻ thành các đường thẳng). Sau đó mọi người dùng tẩu hút được cuộn bằng tờ tiền 10.000 đồng có sẵn từ trước đó sử dụng bằng hình thức hít và nghe nhạc. Th, H, J, P, Q đều sử dụng ma túy đến khoảng 03h00 ngày 28/12/2021 thì nghỉ. P về phòng 504 còn Th, Q, H, J ngủ tại phòng 505. Đến ngày 28/12/2021, J hỏi Q chi phí bữa tiệc hôm qua hết bao nhiêu, Q hỏi Th thì Th nói chi phí mua ma túy hết 3.300.000 đồng. Q thông báo cho J là hết 4.000.000 đồng thì J đưa cho Q 4.000.000 đồng, Q đưa lại cho Th 1.650.000 đồng. Khoảng 16h00 phút cùng ngày Kim Hee J đi ra sân bay để về Hàn Quốc. Sau khi ngủ dậy, trong P505 còn Th, Q, H. H hỏi Th cuộc chơi hết bao nhiêu tiền thì Th bảo hết 13.000.000 đồng, J đã trả một nửa rồi nên H đưa cho Th 10.000.000 đồng. Đến tối ngày 01/01/2021, H, Th, Q, P và Phạm Thị T.A là em gái P đến phòng 505 để chuẩn bị cùng nhau đi chơi tại FĐ. Mọi người sử dụng bóng cười và nghe nhạc nhưng không sử dụng ma túy. Lúc này đĩa sứ chứa “Ke” còn thừa từ ngày 27/12/2021 vẫn ở trên mặt bàn. Đến khoảng 01h30 ngày 02/01/2022 thì tổ công tác Công an phường M1 kiểm tra hành chính phát hiện bắt giữ cùng vật chứng.

Tại cơ quan điều tra Nguyễn Thị Th khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Đối với Yeon Jung H, Lương Thị Q, Phạm Thị Mai P đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại P505 vào ngày 27/12/2021 nên ngày 25/10/2022, Công an quận N đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H, Q, P theo quy định tại khoản 1 Điều 21 nghị định 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ với mức phạt 750.000 đồng/người.

Đối với đối tượng Kim Hee J quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch nên cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ và xử lý.

Đối với Phạm Thị V.A là người bán ma túy cho Th (như Th khai) quá trình điều tra, cơ quan điều tra tiến hành xác minh tại số X ngách Y ngõ C, phường C, quận H, thành phố H xác định V.A có hộ khẩu tại địa chỉ trên nhưng đã bán nhà chuyển đi nơi khác sinh sống do đó không xác định được hiện V.A đang ở đâu. Ngày 28/7/2022, Cơ quan điều tra đã ra quyết định số 26 tách hành vi và tài liệu liên quan đến Phạm Thị V.A để điều tra xử lý sau.

Đối với Phạm Thị T.A quá trình điều tra xác định T.A không tham gia sử dụng ma túy vào ngày 27/12/2021 nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý.

Tại bản cáo trạng số 303/CT- VKS ngày 23/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm bị cáo Nguyễn Thị Th bị truy tố về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thị Th khai nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn nhận tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quan điểm như cáo trạng truy tố và kết luận bị cáo Nguyễn Thị Th đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự. Sau khi đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xem xét tình tiết giảm nhẹ, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s, t, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38, Điều 54 Bộ luật hình sự tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thị Th mức án từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong mép dán có chữ ký của Nguyễn Thị Th, cán bộ Công an phường và Giám định viên Trần Ngọc Ch, 10 bình kim loại hình trụ; Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 loa kéo loại JBZ; 01 điện thoại kiểu dáng Iphone 13 Pro max màu xanh gắn sim số: 0898.572.XXX và số tiền 10.000 đồng.

Bị cáo không tham gia tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng bị cáo thấy ăn năn về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận Nam Từ Liêm, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm và của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai tại cơ quan điều tra cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 27/12/2021, Nguyễn Thị Th đã có hành vi mua ma túy và chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy (đĩa sứ, thẻ card, tẩu hút) để tổ chức cho Yeon Jung H, Kim Hee J, Lương Thị Q, Phạm Thị Mai P sử dụng ma túy tại phòng 505 số nhà 2X ngõ 1XX đường Đ, phường M, quận N, thành phố H. Đến 01h30 phút ngày 02/01/2022 thì bị tổ công tác Công an phường M1 phát hiện bắt giữ, thu giữ 0,020 gam ma túy loại Ketamine còn lại các đối tượng chưa kịp sử dụng.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Th đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo đã có hành vi tổ chức cho nhiều người cùng sử dụng trái phép chất ma túy nên buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo điểm b, khoản 2, Điều 255 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây mất trật tự an toàn xã hội. Xét tính chất hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử thấy cần xét xử nghiêm và áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội. Cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ điều kiện cải tạo giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Th thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án: khi phát hiện các đối tượng sử dụng bóng cười (ngày 01/01/2022) nhưng bị cáo đã tự khai hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 27/12/2021; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bố mẹ bị cáo đã ly hôn, bố bị cáo đã chết; ông ngoại bị cáo là ông Vũ Văn H1 là liệt sỹ - nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tình tiết tăng nặng: Không.

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên: Xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để đảm bảo tính giáo dục, phòng ngừa chung; Tuy nhiên xét nhân thân bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để tuyên cho bị cáo một mức án thấp dưới khung hình phạt cũng đủ để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: 01 phong bì niêm phong mép dán có chữ ký của Nguyễn Thị Th, cán bộ Công an phường và Giám định viên Trần Ngọc Ch, 10 bình kim loại hình trụ cần tịch thu tiêu hủy; 01 loa kéo loại JBZ; 01 điện thoại kiểu dáng Iphone 13 Pro max màu xanh gắn sim số: 0898.572.XXX và số tiền 10.000 đồng liên quan đến hành vi phạm tội cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm b, khoản 2 Điều 255; Điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015;

- Điều 47, Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

- Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Th phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Th 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/01/2022.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong mép dán có chữ ký của Nguyễn Thị Th, cán bộ Công an phường và Giám định viên Trần Ngọc Ch, 10 bình kim loại hình trụ; Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 loa kéo loại JBZ; 01 điện thoại kiểu dáng Iphone 13 Pro max màu xanh gắn sim số: 0898.572.XXX và số tiền 10.000 đồng.

(Vật chứng nêu trên hiện đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm theo biên bản giao nhận vật chứng số 64 ngày 01/12/2022 và Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 30 tháng 11 năm 2022).

Bị cáo Nguyễn Thị Th phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ