- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Huy H - sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Huy H. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 238/2026/HS-ST ngày 06/02/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 271/2026/HS-PT Ngày: 23-4-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đăng Tân
Các Thẩm phán:
Bà Lê Thu Thủy
Bà Nguyễn Thị Bảo Thu
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 194/2026/TLPT-HS ngày 16/3/2026, do có kháng cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 238/2026/HS-ST ngày 06/02/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Huy H; sinh ngày: 02/9/2002 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là Thành phố Hồ Chí Minh); nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là Ấp H, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh); cư trú: Không nơi cư trú nhất định; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: Công nhân; con ông Nguyễn Văn M, sinh năm: 1975 và bà Cao Thị G, sinh năm: 1980; bị cáo là con lớn trong gia đình có 03 anh em; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 21/6/2025, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có muốn bán pháo hoa kiếm lời nên từ tháng 01 năm 2025, Nguyễn Huy H đã mua pháo nổ của đối tượng tên B (không rõ lai lịch) ở Bình Phước, sử dụng số điện thoại: 0335442307 (lưu tên: B) để bán lại. Sau khi mua pháo từ người tên B, H thường vào các nhóm mua bán pháo trên mạng xã hội Facebook rồi để lại thông tin tại phần bình luận, khi người mua pháo có nhu cầu sẽ liên lạc với H qua số điện thoại: 0928598236 đăng ký Zalo tên “Ok” để đặt mua, hẹn giao hàng. Mỗi lần có người mua, H thường yêu cầu thanh toán bằng cách chuyển khoản vào số tài khoản: 0987765610 Ngân hàng TMCP S tên Nguyen Quang T là tài khoản của đối tượng tên B, còn H sẽ đi giao hàng trực tiếp hoặc thuê shiper giao.
Thông qua các hội nhóm mua bán pháo trên mạng xã hội Facebook Nguyễn Tất H1 và Nguyễn Thanh T1 đã mua pháo hoa của Nguyễn Huy H để bán lại. H thường bán cho H1 và T1 01 hộp (giàn) pháo 49 giàn phun, với giá từ 590.000 đồng đến 650.000 đồng/hộp, 01 hộp (giàn) pháo 16 giàn phun với giá 1.400.000 đồng đến 1.450.000 đồng/hộp, 01 hộp (giàn) pháo 138 giàn phun với giá 1.500.000 đồng đến 1.550.000 đồng/hộp và 01 túi pháo gồm 100 viên bi với giá 600.000 đồng/01túi. H sử dụng zalo tên “Ok”, H1 sử dụng Zalo tên “B Nhé” và T1 sử dụng Z “A” để trao đổi mua bán pháo với nhau. Từ khoảng tháng 01 năm 2025 đến ngày bị phát hiện, H đã bán pháo cho H1, T1 và một số người khác nhiều lần, thu lợi khoảng 100.000.000 đồng. H1 cũng bán cho khoảng 10-11 người mua, thu lợi khoảng 5.000.000 đồng, T1 bán cho khoảng 7-8 người mua, thu lợi khoảng 4.000.000 đồng. Trong số người mua pháo của H1 và T1 có Nguyễn Trung H2. Sau khi mua pháo của H1 và T1, Nguyễn Trung H2 sẽ đăng thông tin lên nhóm “P.h.a.o Dàn 49-36 T, Trung Quốc” rao bán cho người khác với giá pháo 49 giàn phun từ 700.000 đồng đến 900.000 đồng/hộp, pháo 16 giàn phun từ 1.500.000 đồng đến 1.800.000 đồng/hộp, pháo 138 giàn phun với giá 1.700.000 đồng/hộp và 700.000 đồng/01 túi pháo gồm 100 viên bi nhằm hưởng lợi.
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 28/5/2025, Nguyễn Trung H2 nhận được tin nhắn qua ứng dụng Messenger tên “Nguyen Ngoc Luong” đặt mua 02 hộp pháo hoa loại 49 giàn phun, với giá 900.000 đồng/hộp và 02 hộp pháo hoa loại 16 giàn phun với giá 1.800.000 đồng/hộp, rồi hẹn giao hàng ở Khu chế xuất L thuộc phường L, thành phố T (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh). H2 điều khiển xe mô tô hiệu Exciter biển số: 73D1-297.08 mang theo 01 ba lô bên trong đựng 02 hộp pháo hoa loại 49 giàn phun có chữ KS4-49CD để trên gác ba ga xe và 01 thùng giấy carton bên trong đựng 02 hộp pháo loại 16 giàn phun có chữ MAKE A RICH cột sau yên xe, đi từ nhà trọ ở D, Bình Dương (nay là phường D, Thành phố Hồ Chí Minh) đến hầm cầu vượt L, thuộc phường L, thành phố T (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh) thì bị Công an phường L phát hiện kiểm tra thu giữ tang vật, đưa về trụ sở làm việc.
Qua khám xét, thu giữ tại nhà trọ của H2: 05 (năm) hộp pháo loại 49 giàn phun có in chữ KS4-49CD (mẫu m1), 02 (hai) hộp pháo loại 138 giàn phun có chữ số C0838 (mẫu m2), 01 (một) gói nylon chứa 100 viên pháo bi (mẫu m3), 01 (một) hộp pháo loại 16 giàn phun có chữ MAKE A RICH (mẫu m4). Tại cơ quan điều tra H2 xác định đã mua loại pháo 16 giàn phun của Nguyễn Tất H1, còn các loại pháo khác H2 mua của Nguyễn Thành T2. Ngoài lần bị phát hiện bắt giữ, H2 đã bán cho 7-8 người (không xác định nhân thân, lai lịch), thu lợi được khoảng 3.000.000 đồng.
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 30/5/2025, Nguyễn Tất H1 sử dụng Zalo “Bình Yên N” nhắn tin cho Nguyễn Huy H qua tài khoản Zalo “T3” đặt mua 04 (bốn) hộp pháo hoa loại 49 giàn phun với giá 650.000 đồng/hộp và 05 (năm) hộp pháo hoa loại 16 giàn phun với giá 1.450.000 đồng/hộp và hẹn chiều 31/5/2025 sẽ giao cho H1 tại Chợ Hài Mỹ thuộc phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường A, Thành phố Hồ Chí Minh). Đến 18 giờ 00 cùng ngày, H điều khiển xe mô tô Wave màu đỏ, biển số 60M1-1734 chở theo 01 thùng carton bên trong có pháo đến đoạn vòng xoay Cổng chào B để đặt G1 giao pháo cho H1 thì bị Công an Thành phố H tiến hành truy xét, kiểm tra mời về làm việc.
Thu giữ của Nguyễn Huy H 04 (bốn) hộp pháo hoa loại 49 giàn phun (mẫu m8) và 05 (năm) hộp pháo hoa loại 16 giàn phun (mẫu m9).
Ngày 30/5/2025, qua truy xét Cơ quan Cảnh sát điều tra đã đưa Nguyễn Tất H1 và Nguyễn Thanh T1 về làm việc.
Tiến hành khám xét thu giữ tại nhà của T1: 03 (ba) hộp pháo loại 49 giàn phun có chữ KS4-4911 (mẫu m5), 04 (bốn) hộp pháo loại 49 giàn phun có chữ KS4-49CD (mẫu m6); 05 (năm) hộp pháo loại 16 giàn phun có chữ MAKE A RICH (mẫu m7). Tất cả số pháo trên T1 mua của Nguyễn Huy H với mục đích bán lại kiếm lời.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra công an Thành phố H, Nguyễn Trung H2, Nguyễn Huy H, Nguyễn Tất H1 và Nguyễn Thanh T1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên (BL80-132).
Căn cứ kết quả giám định số 7555/KL-KTHS ngày 02/6/2025 của Phòng K Công an thành phố H kết luận (thu giữ khi H2 đang đi giao cho khách): 02 khối hình hộp kích thước (17x17x10) cm được bọc giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối có 49 ống hình trụ kích thướng (2,5x10) cm, được nối với nhau bằng dây dẫn được ký hiệu mẫu m1 cần giám định đều là pháo nổ, có tổng khối lượng 3,4 kg; 02 khối hình hộp kích thước (17x17x10) cm được bọc giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối có 16 ống hình trụ kích thướng (4,5x25) cm, được nối với nhau bằng dây dẫn được ký hiệu mẫu m2 cần giám định đều là pháo nổ, có tổng khối lượng 5,9 kg; Tổng khối lượng mẫu cần giám định: 9,3 kg (BL32).
Căn cứ kết quả giám định số 7893/KL-KTHS ngày 13/6/2025 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận:
Thùng carton số 01 (thu giữ tại nhà H2):
- 05 khối hình hộp kích thước (17x17x10)cm được bọc giấy nhiều màu sắc có in chữ KS4-49CD, bên trong mỗi khối có 49 ống hình trụ đường kính (2,3cm, dài 10 cm, được nối với nhau bằng dây dẫn được ký hiệu mẫu m1 cần giám định đều là pháo nổ (pháo hoa nổ), có tổng khối lượng 8,38kg (tám phẩy ba tám);
- 02 khối hình hộp kích thước (30,5x26,5x10)cm bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc có in chữ “C0838”, bên trong mỗi khối chứa 138 ống giấy hình trụ đường kính 2,3 cm dài 10 cm được nối với nhau bằng dây dẫn cần giám định được ký hiệu mẫu m2 đều là pháo nổ (pháo hoa nổ), tổng khối lượng 9,58 kg (chín phẩy năm tám).
- 100 vật hình cầu vỏ bằng nhựa, nhiều màu sắc, một đầu nối với dây dẫn cầt giám định được ký hiệu mẫu m3 đều là pháo nổ, tổng khối lượng 0,44 kg (không phẩy bốn bốn kilogam).
Thùng carton số 02 (thu giữ tại nhà H2):
- 01 khối hình hộp kích thước (17x17x24,5) cm bên ngoài bọc giấy nhiều mà sắc có in chữ “MAKE A RICH”, bên trong chứa 16 ống giấy hình trụ đường kính 4,0 cm dài 24,5 cm được nối với nhau bằng dây dẫn được ký hiệu mẫu m4 là pháo nổ (pháo hoa nổ), khối lượng 2,92 kg (hai phẩy chín hai kilogam)
Thùng carton số 03 (thu giữ tại nhà T1):
- 03 khối hình hộp kích thước (17,5x17,5x10) cm bên ngoài bọc giấy nhiều m sắc có in chữ “KS4-4911”, bên trong mỗi khối chứa 49 ống giấy hình trụ đường kính 2,3 cm dài 10 cm được nối với nhau bằng dây dẫn được ký hiệu mẫu m5 đều là pháo nổ (pháo hoa nổ), tổng khối lượng 5,02 kg (năm phẩy không hai).
- 04 khối hình hộp kích thước (17,5x17,5x10) cm bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc có in chữ “KS4-49CD”, bên trong mỗi khối chứa 49 ống giấy hình trụ đường kính 2,3 cm dài 10 cm được nối với nhau bằng dây dẫn được ký hiệu mẫu m6 đều là pháo nổ (pháo hoa nổ), tổng khối lượng 6,72 kg (sáu phẩy bảy hai).
- 05 khối hình hộp kích thước (17x17x24,5) cm bên ngoài bọc giấy nhiều sắc có in chữ “MAKE A RICH”, bên trong mỗi khối chứa 16 ống giấy hình trụ đường kính 4,0 cm dài 24,5 cm được nối với nhau bằng dây dẫn được ký hiệu m7 đều là pháo nổ (pháo hoa nổ), tổng khối lượng 14,78 kg (mười bốn phẩy bảy tám).
Thùng carton số 04 (thu giữ của H):
- 04 khối hình hộp kích thước (17,5x17,5x10) cm bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc có in chữ “KS4-4911”, bên trong mỗi khối chứa 49 ống giấy hình trụ đường kính 2,3 cm dài 10 cm được nối với nhau bằng dây dẫn được ký hiệu mẫu m8 đều là pháo nổ (pháo hoa nổ), tổng khối lượng 6,94 kg (sáu phẩy chín bốn).
- 05 khối hình hộp kích thước (17x17x24,5) cm bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc có in chữ “MAKE A RICH”, bên trong mỗi khối chứa 16 ống giấy hình trụ đường kính 4,0 cm dài 24,5 cm được nối với nhau bằng dây dẫn được ký hiệu mẫu m9 đều là pháo nổ (pháo hoa nổ), tổng khối lượng 14,64 kg (mười bốn phẩy sáu bốn).
Tổng khối lượng mẫu cần giám định 69,42 kg (sáu mươi chín phẩy bốn mươi hai) (BL33-35).
* Thu giữ, tạm giữ, đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng:
- 07 hộp pháo loại 49 giàn phun; 03 hộp pháo loại 16 giàn phun; 02 hộp pháo 138 giàn phun và 01 túi bên trong có 100 viên pháo nhỏ (thu giữ của Nguyễn Trung H2);
- 07 hộp pháo loại 49 giàn phun; 05 hộp pháo loại 16 giàn phun (thu giữ của Nguyễn Thanh T1);
- 04 hộp pháo loại 49 giàn phun; 05 hộp pháo loại 16 giàn phun; (thu giữ của Nguyễn Huy H);
- 01 (một) xe mô tô hiệu Exciter biển số: 73D1-297.08 (thu giữ của H2). Kết quả xác minh xe trên do H2 đứng tên chủ sở hữu.
- 01 (một) xe mô tô hiệu Wave màu đỏ, biển số: 60M1-1734 (thu giữ của H). Kết quả xác minh xe trên do bà Phạm Thị L đứng tên chủ sở hữu, tuy nhiên qua làm việc bà L xác nhận đã bán lại xe trên nhưng không làm thủ tục mua bán. H khai nhận mua lại xe cũ không làm giấy tờ.
- 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 12 màu xanh (thu giữ của Nguyễn Trung H2);
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo A58 (thu giữ của Nguyễn Tất H1);
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus (thu giữ của Nguyễn Huy H);
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 (thu giữ của Nguyễn Thanh T1).
Cáo trạng số 267/CT-VKSKV2 ngày 17 tháng 12 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Trung H2, Nguyễn Tất H1 về tội “Buôn bán hàng cấm”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; truy tố bị cáo Nguyễn Huy H, Nguyễn Thanh T1 về tội “Buôn bán hàng cấm”, theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bản án hình sự sơ thẩm số 238/2026/HS-ST ngày 06/02/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh, tuyên xử:
“1. Căn cứ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung H2 phạm tội “Buôn bán hàng cấm”;
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H2 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/6/2025.
2. Căn cứ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tất H1 phạm tội “Buôn bán hàng cấm”;
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Tất H1 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/6/2025.
3. Căn cứ quy định tại điểm g khoản 2 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; khoản 2 Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Huy H, Nguyễn Thanh T1 phạm tội “Buôn bán hàng cấm”;
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T1 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/6/2025.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy H 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/6/2025.
4. Hình phạt bổ sung: Căn cứ quy định tại điểm khoản 4 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
- Buộc bị cáo Nguyễn Tất H1 nộp phạt số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
- Buộc bị cáo Nguyễn Thanh T1 nộp phạt số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
- Buộc bị cáo Nguyễn Huy H nộp phạt số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng.”
Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, các biện pháp tư pháp, quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
Ngày 10/02/2026, bị cáo Nguyễn Huy H có đơn kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Chủ tọa, Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng các quy định của pháp luật, những người tham gia phiên tòa đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo luật định.
Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Huy H 07 (bảy) năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, có xem xét vai trò của từng bị báo trong vụ; tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không cung cấp được chứng cứ mới để xem xét. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Huy H trình bày: Bị cáo đã nhận thức được hành vi sai phạm của mình, bị cáo còn trẻ, có hoàn cảnh khó khăn. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án và các ý kiến tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định nên được cấp phúc thẩm chấp nhận xem xét, giải quyết.
Xét nội dung kháng cáo của bị cáo:
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đã thực hiện, thống nhất với tội danh mà bản án sơ thẩm đã tuyên, bị cáo Nguyễn Huy H chỉ xin giảm nhẹ hình phạt nên Hội đồng xét xử không xem xét lại các nội dung, tình tiết của vụ án, chỉ xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mà cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với các bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo bị áp dụng 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo phạm tội thuộc dạng đồng phạm giản đơn, tự nguyện nộp một số tiền để khắc phục hậu quả của tội phạm nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Không bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật trước khi phạm tội.
Xét thấy, bị cáo Nguyễn Huy H phạm tội “Buôn bán hàng cấm”, thuộc trường hợp buôn bán pháo nổ có khối lượng từ 40 kg đến dưới 120 kg theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), với khung hình phạt từ 05 năm đến 10 năm tù. Trong vụ án này, tổng khối lượng pháo nổ mà bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là 78,72 kg, thuộc mức cao trong khung định lượng; bị cáo còn thu lợi bất chính khoảng 100.000.000 đồng, thể hiện mục đích vụ lợi rõ ràng. Hành vi buôn bán pháo nổ với số lượng lớn không chỉ vi phạm quy định quản lý của Nhà nước mà còn gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội; thực tế đã có nhiều trường hợp pháo nổ gây cháy, nổ, làm thiệt hại về tài sản, xâm hại đến sức khỏe, tính mạng của người khác. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới để Hội đồng xét xử xem xét thêm.
Như vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy, với khối lượng hàng cấm lớn, tính chất nguy hiểm của loại hàng hóa bị cấm lưu hành và số tiền thu lợi đáng kể nêu trên, việc Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 07 năm tù là tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, bảo đảm yêu cầu răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Huy H, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 238/2026/HS-ST ngày 06/02/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh và phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm.
Về án phí:
Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật theo quy định tại khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2024, 2025);
Không chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Huy H. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 238/2026/HS-ST ngày 06/02/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2
- Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; khoản 2 Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy H 07 (bảy) năm tù về tội “Buôn bán hàng cấm”. Thời hạn tù tính từ ngày 21 tháng 6 năm 2025.
Căn cứ quy định tại điểm khoản 4 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo: Buộc bị cáo Nguyễn Huy H nộp phạt số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng.
3. Về án phí hình sự phúc thẩm:
Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng, nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; (1) - VKSND TP.HCM; (3) - Sở Tư pháp TP.HCM; (1) (1) - P.PV06 – Công an TP.HCM - TAND khu vực 2 – TP.HCM; (1) - VKSND khu vực 2 – TP.HCM (1) - Phòng THADS khu vực 2 – (1) TP.HCM; (1) - Bị cáo; (1) - UBND nơi bị cáo cư trú (1) - Lưu: VP, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Đăng Tân |