- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Doãn Bá V và bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH TỈNH QUANG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2024/HSST Ngày : 24-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa : Bà Nguyễn Thị Xuân Thùy.
Các Hội thẩm nhân dân :
Bà Phan Thị Thanh Dung
Ông Dương Minh Ngọc
- Thư ký phiên tòa : Bà Đoàn Thị Kiều Hoanh – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Duy – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2024/TL-HSST ngày 31 tháng 01 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ tên: Doãn Bá V, sinh ngày 10 tháng 11 năm 1996, tại Núi Thành, Quảng Nam. Nơi cư trú: Thôn P, xã X2, huyện N, tỉnh Q. Giới tính: Nam. Quốc tịch: V Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 10/12. Nghề nghiệp: Công nhân.
Con ông Doãn Bá T, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị Th, sinh năm: 1959. Bị cáo chưa có vợ đã ly hôn, có một con 2016 đang ở với mẹ.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 07/11/2023 đến nay. Hiện bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Họ tên: Nguyễn Đức T, sinh ngày 06 tháng 10 năm 1995, tại Núi Thành, Quảng Nam. Nơi cư trú: Thôn P, xã X2, huyện N, tỉnh Q. Giới tính: Nam. Quốc tịch: V Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 09/12. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông.
Con ông Nguyễn Đức Th, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1961. Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 07/11/2023 đến nay. Hiện bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào rạng sáng ngày 17/7/2023, Doãn Bá V nhắn tin qua mạng xã hội zalo đến zalo của Nguyễn Đức T rủ T đi mua ma tuý đá về sử dụng nhưng T đang ngủ nên không trả lời. Đến khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, V nhắn tin qua zalo nhờ T chở ra tiệm cầm đồ Bin 209 chuộc lại xe mô tô đang cầm. Tại đây V nói với T đi mua ma tuý đá về sử dụng thì T đồng ý. T nói không có tiền thì V dùng tài khoản số 33100111890005 của Ngân hàng MB chuyển cho T số tiền 200.000 đồng qua số tài khoản 1068xxxxxxx Ngân hàng Viettinbank của T để T đi mua ma tuý đá về nhà T cùng nhau sử dụng.
Sau đó V chạy xe mô tô của mình đi rửa xe, đổ xăng; T đến ngã tư đường Nguyễn Hoàng và Trần Cao Vân, thành phố Tam Kỳ gặp một người tên S không rõ lai lịch cụ thể mua ma tuý đá với giá 200.000 đồng. T dùng tài khoản Viettinbank chuyển qua tài khoản Momo của mình rồi dùng tài khoản Momo chuyển qua Sơn số tiền 200.000 đồng. Sơn chỉ vị trí cho T đến lấy ma tuý đá. Sau khi giao dịch xong, T cầm gói ma tuý trên tay về nhà T.
Khoảng 12 giờ 00 phút, khi về đến nhà T lấy bộ dụng cụ sử dụng ma tuý dưới chân cầu thành để trên giường gần cầu thang, T dùng lưỡi dao lam cắt một phần đầu của gói ni lông chứa ma tuý đá, đổ ma tuý vào bầu nỏ Tỷ tinh được gắn trên nắm chai nhựa, vứt gói ni lông xuống dưới nền nhà gần chân cầu thang và ngồi đợi V đến để cùng sử dụng. Khi V chạy xe mô tô BKS 92N1-685.88 đến nhà T thì T đang ngồi trên giường gần cầu thang, V thấy trên giường có bộ dụng cụ sử dụng ma tuý, trong bầu thuỷ tinh có sẵn ma tuý, T và V cùng ngồi trên giường, T dùng bật lửa hơ nỏ thuỷ tinh, hút trước rồi đưa cho V hút, mỗi người hút được ba hơi thì xong. Sau khi sử dụng ma tuý xong, T cất bộ dụng cụ ma tuý đá dưới chân cầu thang và cả hai nằm trên giường chơi điện thoại. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, Công an huyện Núi Thành phối hợp Công an xã Tam Xuân 2 kiểm tra, phát hiện lập biên bản ghi lại toàn bộ sự việc và tạm giữ đồ vật, tài liệu có liên quan.
Tại kết luận giám định số 112/Kl-KTHS ngày 04/8/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam kết luận:
- Chất rắn màu trắng bám dính trong gói ni lông không màu gửi giám định là ma tuý, loại Methampheytamine. Do lượng mẫu bám dính trên gói ni lông quá ít nên không thể xác định được khối lượng mẫu.
- Chất rắn màu trắng chứa trong bầu nỏ Tỷ tinh gửi giám định là ma tuý loại Methamphetamine, khối lượng mẫu là 0,066gam.
Tang vật tạm giữ gồm:
- 01 chai nước suối có gắn nắp nhựa màu đỏ, trên nắm nhựa có đục 02 lỗ, gắn 01 ống hút nhựa màu tím;
- 01 lưỡi lam bằng kim loại màu trắng.
- 01 bật lửa màu tím không có nắp bảo vệ.
- 01 xe mô tô màu đen đã qua sử dụng, BKS 43H3-1815.
- 01 xe mô tô màu xám đen đã qua sử dụng BKS 92N1-68588.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đỏ bên trong có gắn thẻ sim 0865.xxx.xxx.
- 01 điện thoai di động nhãn hiệu Samsung màu xanh bên trong có gắn thẻ sim 0367.xxx.xxx.
- 01 phong bì số 112/KL-KTHS, bên ngoài có dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam, bên trong có 01 gói ni lông không màu; 01 nỏ thuỷ tinh, bên ngoài có chữ ký của Lê Hoàng Vũ, Lê Cao Trí và Trần Việt Luân và toàn bộ vỏ bao gói.
Tại bản cáo trạng số 12/CT-VKS-NT ngày 31/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành truy tố các bị cáo Doãn Bá V và Nguyễn Đức T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Doãn Bá V và Nguyễn Đức T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo V từ 02 năm 6 tháng đến 03 năm tù; áp dụng khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Về vật chứng đề nghị xử lý tịch T sung công quỹ 01 xe mô tô màu đen đã qua sử dụng, BKS 43H3-1815; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đỏ bên trong có gắn thẻ sim 0865.xxx.xxx; 01 điện thoai di động nhãn hiệu Samsung màu xanh bên trong có gắn thẻ sim 0367.xxx.xxx. Tuyên trả cho bị cáo V 01 xe mô tô màu xám đen đã qua sử dụng BKS 92N1-68588; tịch T tiêu huỷ: 01 chai nước suối có gắn nắp nhựa màu đỏ, trên nắm nhựa có đục 02 lỗ, gắn 01 ống hút nhựa màu tím; 01 lưỡi lam bằng kim loại màu trắng; 01 bật lửa màu tím không có nắp bảo vệ; 01 phong bì số 112/KL-KTHS, bên ngoài có dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng nam, bên trong có 01 gói ni lông không màu, 01 nỏ Tỷ tinh, bên ngoài có chữ ký của Lê Hoàng Vũ, Lê Cao Trí và Trần Việt Luân và toàn bộ vỏ bao gói.
Tại phiên tòa và lời nói sau cùng, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Núi Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội và tội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản sự việc, kết quả giám định và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng công khai tại phiên toà, có căn cứ xác định: vào lúc 14 giờ 30 phút ngày 17/7/2023, tại thôn P, xã X2, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam, Doãn Bá V và Nguyễn Đức T cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị Tổ công tác Công an huyện Núi Thành phối hợp với Công an xã Tam Xuân 2 bắt quả tang thu giữ nhiều vật chứng có liên quan. Hành vi của các bị cáo Doãn Bá V và Nguyễn Đức T đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 như Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ của vụ án: Tổ chức sử dụng trái phép ma túy là hành vi xâm phạm đến quản lý độc quyền về ma túy của Nhà nước. Tội phạm ma túy hiện nay ngày càng tăng, tình hình phức tạp, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống gia đình của bị cáo cũng như xã hội. Bị cáo Doãn Bá V và Nguyễn Đức T đều là người đã thành niên, các bị cáo có đủ khả năng nhận thức được ma túy là chất gây nghiện, có ảnh hưởng xấu đến người dùng, việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi, tổ chức cho nhau cùng sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, cần có mức án phù hợp, nhằm răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét nhân thân của các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do vụ án có tính chất nghiêm trọng, ảnh hưởng đến tình hình xã hội tại địa phương, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để đảm bảo mục đích răn đe, phòng ngừa, giáo dục của hình phạt. Tuy nhiên, các bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội. Sau khi phạm tội, quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy, Hội đồng xét xử sơ thẩm thống nhất với quan điểm của Kiểm sát viên áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS đối với các bị cáo để giảm nhẹ khi quyết định hình phạt cho các bị cáo là phù hợp với tính nhân đạo pháp luật xã hội chủ nghĩa. Bị cáo V là người khởi xướng và chuyển tiền cho bị cáo T mua ma túy về sử dụng nên có vai trò cao nhất trong vụ án, bị cáo T tích cực làm theo lời V nhưng vai trò thấp hơn, cần đánh giá xem xét để cá thể hóa hình phạt cho phù hợp. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về loại hình phạt, mức hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp nên chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 255, các bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung bằng tiền, phạt quản chế, cấm cư trú từ 1 đến 5 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, tuy nhiên các bị cáo đang bị tạm giam, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Đối với xe mô tô BKS 92N1-685.88 của Doãn Bá V không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo, tuyên trả lại cho bị cáo V là phù hợp. Đối với xe mô tô BKS 43H3-1815 do ông Bùi H đứng tên chủ sở hữu nhưng T là người mua lại và đang trực tiếp quản lý sử dụng được chính quyền địa phương xác nhận, T sử dụng xe này để đi mua ma tuý nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đỏ bên trong có gắn thẻ sim 0865.xxx.xxx và 01 điện thoai di động nhãn hiệu Samsung màu xanh bên trong có gắn thẻ sim 0367.xxx.xxx của các bị cáo dùng để chuyển tiền mua ma tuý về sử dụng, liên quan đến hành vi phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Đối với 01 chai nước suối có gắn nắp nhựa màu đỏ, trên nắm nhựa có đục 02 lỗ gắn ống hút nhựa màu tím; 01 lưỡi lam bằng kim loại màu trắng; 01 bật lửa màu tím không có nắp bảo vệ; 01 phong bì số 112/KL-KTHS, bên ngoài có dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng nam, bên trong có 01 gói ni lông không màu, 01 nỏ Tỷ tinh, bên ngoài có chữ ký của Lê Hoàng Vũ, Lê Cao Trí và Trần Việt Luân và toàn bộ vỏ bao gói là vật chứng liên quan trực tiếp tới hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Các vấn đề khác có liên quan: Đối tượng tên Sơn là người đã bán ma tuý cho T, tuy nhiên chưa xác định được nhân thân lai lịch cụ thể của Sơn, khi nào điều tra làm rõ xử lý sau là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Doãn Bá V và bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo: Doãn Bá V 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 07/11/2023.
Xử phạt bị cáo: Nguyễn Đức T 02 (hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 07/11/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: với 01 chai nước suối có gắn nắp nhựa màu đỏ, trên nắm nhựa có đục 02 lỗ, gắn 01 ống hút nhựa màu tím; 01 lưỡi lam bằng kim loại màu trắng; 01 bật lửa màu tím không có nắp bảo vệ; 01 phong bì số 112/KL-KTHS, bên ngoài có dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng nam, bên trong có 01 gói ni lông không màu, 01 nỏ thuỷ tinh, bên ngoài có chữ ký của Lê Hoàng Vũ, Lê Cao Trí và Trần Việt Luân và toàn bộ vỏ bao gói.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đỏ bên trong có gắn thẻ sim 0865.xxx.xxx và 01 điện thoai di động nhãn hiệu Samsung màu xanh bên trong có gắn thẻ sim 0367.xxx.xxx; 01 xe mô tô BKS 43H3-1815.
Tuyên trả cho bị cáo Doãn Bá V xe mô tô BKS 92N1-685.88.
(Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Núi Thành theo quyết định chuyển vật chứng số 10/QĐ-VKS-NT ngày 31/01/2024).
3. Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Doãn Bá V và bị cáo Nguyễn Đức T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa Tận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./. Nơi nhân;
| - Bị cáo; - VKSND huyện Núi Thành; - VKSND tỉnh Quảng Nam; - Chi cục THA huyện Núi Thành; - Công an huyện Núi Thành; - Lưu hồ sơ, lưu bộ phận HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Xuân Thùy |