vanban.org

Bản án 27/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 29/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Vũ P phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ P 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn từ ngày 15/02/2023. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Vũ P - Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ su…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Vũ P phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 255 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRÀNG ĐỊNH
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2023/HS-ST
Ngày 29 - 6 -2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bàn Văn Tiển.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nông Đình Công;

Bà Lương Thu Hương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bế Thị Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Đức Trọng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 25/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Vũ P, tên gọi khác: Không; sinh ngày 02 tháng 12 năm 1990, tại huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khu H, thị trấn N, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Anh B và bà Trương Thị H1; có vợ: Nguyễn Thị Ngọc A, sinh năm 1995; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2019, con bé sinh 2020; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Bị cáo Nguyễn Vũ P đã bị 02 lần xét xử lần 01 tại Bản án số 08/2011/HSST ngày 27/01/2011 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt bị cáo P 01 năm tù về tội Cố ý gây thương tích. Bị cáo đã chấp xong hình phạt tù, chấp hành xong án phí và các quyết định khác của Bản án và đã được xóa án tích; bản án thứ hai, tại Bản án số 42/2021/HSST ngày 17/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn xử phạt bị cáo P 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định của bản án. Hành vi phạm tội trong bản án này xảy ra sau khi thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án nên không coi là tiền án, chưa bị xử lý hành chính, chưa bị kỷ luật; bị cáo bị bắt tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn từ ngày 15/02/2023 cho đến nay, có mặt.

- Người làm chứng:Anh Vương Minh H4, sinh năm 1999, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện ma túy từ năm 2020, Nguyễn Vũ P thường xuyên mua ma túy với 01 người đàn ông tên H2 (không biết nhân thân, địa chỉ cụ thể) làm nghề xe ôm ở khu vực ngã ba H3, thị trấn N, huyện V về để sử dụng. Khoảng 19 giờ ngày 27/3/2021, P đến khu vực ngã ba H3 mua của người đàn ông tên H2 được 01 gói ma túy đá với giá 200.000 đồng, sau đó mang số ma túy trên về nhà. Khi về đến nhà, thấy cuộc gọi nhỡ của Trần Duy T, P gọi điện thoại lại thì được T rủ lên trộm cá ở khu vực hồ câu N2, thuộc thôn B1, xã K, huyện T1, tỉnh Lạng Sơn do T được anh Vũ Văn M thuê trông coi, quản lý, bảo vệ hồ câu, Nguyễn Vũ P đồng ý và rủ thêm Vương Minh H4 đi cùng. P điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 12V1-161.21 mang theo số ma túy đá mua được đến hồ câu N2 rồi chở H4 đang chờ sẵn ở đó vào chỗ chòi câu cá để ngồi uống nước, nói chuyện. Tại đây, P mang ra 01 gói ma túy đá để trên bàn uống nước rồi nói quên chai thủy tinh ở nhà thì T bảo “Ở đây có chai nhựa”, rồi T đi vào buồng ngủ trong chòi lấy chai nhựa, coóng thủy tinh, vòi nhựa ra lắp thành dụng cụ sử dụng ma túy và đổ gói ma túy đá vào coóng thủy tinh rồi dùng bật lửa châm đốt. T là người hút đầu tiên rồi đến Nguyễn Vũ P, Vương Minh H4 cùng nhau lần lượt sử dụng.

Sau khi sử dung ma túy xong Trần Duy T, Nguyễn Vũ P, Vương Minh H4 cùng nhau thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là cá chép trong hồ câu với trọng lượng là 89 kg, theo Kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐĐGTS trong Tố tụng Hình sự huyện Tràng Định kết luận trị giá là 7.120.000 đồng. Hành vi cung cấp trái phép chất ma túy của Nguyễn Vũ P để cùng nhau sử dụng và đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể của 02 người là Trần Duy T, Vương Minh H4 cùng một lúc đã cấu thành tội: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 08/02/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định đã yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tràng Định khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Ngày 13/02/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tràng Định đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Vũ P về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy để tiến hành điều tra theo quy định.

Với nội dung sự việc trên, tại bản Cáo trạng số 27/CT-VKSTĐ ngày 17/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Vũ P phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Vũ P đã thành khẩn khai nhận toàn bộ quá trình, mục đích đi mua ma túy về để sử dụng cho bản thân và cung cấp 01 gói ma túy đá để 02 người là Trần Duy T và Vương Minh H4 cùng một lúc sử dụng trái phép bằng hình thức hít vào cơ thể nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Vũ P phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ P từ 07 (bẩy) năm 06 tháng đến 08 (tám) năm 06 tháng tù.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát; lời nói sau cùng bị cáo thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt, xử cho bị cáo mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên huyện Tràng Định trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người làm chứng không có ý kiến hoặc kH4 nại về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Việc vắng mặt người làm chứng anh Vương Minh H4 Hội đồng xét xử nhận thấy người làm chứng trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa, nhưng đã có lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra và được lưu trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật.

Về hành vi cấu thành tội phạm đối với bị cáo Nguyễn Vũ P: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng truy tố, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, đồng thời hoàn toàn phù hợp với các tài liệu khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Cụ thể ngày 27/3/2021 tại bàn uống nước trong chòi trông cá hồ câu N2, thuộc thôn B1, xã K, huyện T1, tỉnh Lạng Sơn, Nguyễn Vũ P đã có Hành vi cung cấp trái phép 01 gói ma túy đá để cho 02 người là Trần Duy T và Vương Minh H4 cùng một lúc sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức hít vào cơ thể nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Như vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Vũ P là rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, am hiểu về pháp luật, biết được việc cung cấp ma túy cho từ hai người trở lên để cùng nhau sử dụng là vi phạm pháp luật, phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng vẫn cố tình thực hiện vì mục đích để thỏa mãn cơn nghiện nên bị cáo bất chấp pháp luật. Hành vi này là trực tiếp xâm phạm đến chế độ chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự, an ninh xã hội, gây nguy hại rất lớn cho xã hội về nhiều mặt, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Hành vi phạm tội của bị cáo bị xã hội lên án mạnh mẽ và bị pháp luật nghiêm cấm. Hành vi của bị cáo gây ra cần xử lý nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định, mới có thể giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình, xã hội và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân: Bị cáo Nguyễn P Vũ đã bị 02 lần xét xử lần 01 tại Bản án số 08/2011/HSST ngày 27/01/2011 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt bị cáo P 01 năm tù về tội Cố ý gây thương tích. Bị cáo đã chấp xong hình phạt tù, chấp hành xong án phí và các quyết định khác của Bản án và đã được xóa án tích; bản án thứ hai, tại Bản án số 42/2021/HSST ngày 17/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn xử phạt bị cáo P 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định của bản án. Hành vi phạm tội trong bản án này xảy ra sau khi thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án nên không coi là tiền án; tiền sự: Không có; về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngoài tình tiết định khung hình phạt bị cáo không có tình tiết tăng nặng khác; về tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Qua biên bản xác minh ngày 20/3/2023, tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện V, bị cáo là người nghiện ma túy không có tài sản, không có nghề nghiệp ổn định. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị về mức hình phạt, tình tiết giảm nhẹ, áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; xử lý vật chứng. Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ, nên được chấp nhận.

Đối với người đàn ông tên H2 bán chất ma túy Heroin cho bị cáo Nguyễn Vũ P tại khu vực Ngã ba H3, thị trấn N, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Xét thấy đây là lời khai một phía của bị cáo P, mặt khác không xác định được tên, tuổi địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Đối với hành vi trộm cắp tài sản của Trần Duy T, Nguyễn Vũ P, Vương Minh H4 đã được xét xử tại Bản án số 42/2021/HSST ngày 17/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với hành vi của Trần Duy T cung cấp địa điểm, dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy đã bị xét xử về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại Bản án số: 07/2022/HS-ST ngày 27/01/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Vũ P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Vũ P phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ P 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn từ ngày 15/02/2023.

3. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Vũ P phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Vũ P có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ