- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Văn H và đồng bọn phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Đoàn Văn H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Nguyễn Văn H1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2022/HS-ST Ngày 25-5-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Quang Liêm và bà Nguyễn Thị Hồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thanh Huyền – Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Hƣơng và ông Nguyễn Đình Khoa- Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2022/HSST ngày 14-4-2022, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 22/2022/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Đoàn Văn H, sinh năm 1997; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn B, xã Đ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đoàn Văn H và bà Nguyễn Thị H, gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: + Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2017/HSST ngày 17/8/2017 của TAND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xử phạt 18 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
+ Bản án hình sự sơ thẩm số 60/2017/HSST ngày 26/9/2017của TAND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 18 tháng tù tại bản án số 46 ngày 17/8/2017, buộc H phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 25 tháng tù. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/11/2018, đã nộp xong tiền án phí.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/9/2021, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dƣơng đến nay, có mặt.
2. Nguyễn Văn H1, sinh năm 1992; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn B, xã Đ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: không xác định và bà Nguyễn Thị N, bị cáo là con duy nhất trong gia đình; tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: + Ngày 04/01/2016 bị Công an huyện Tứ Kỳ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc.
+ Ngày 05/9/2016 bị Công an huyện Tứ Kỳ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/9/2021, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dƣơng đến nay, có mặt.
- Người làm chứng:
+ Chị Nguyễn Thị T, sinh ngày 03/5/2004;
+ Chị Hà Thị Tr, sinh năm 2002;
+ Anh Vũ Văn N, sinh ngăm 1989;
+ Anh Đào Văn N1, sinh năm 1990;
+ Anh Nguyễn Trung K, sinh năm 1989;
+ Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1995;
+ Ông Phạm Văn P, sinh năm 1956;
+ Ông Hoàng Văn N2, sinh năm 1962;
Những ngƣời làm chứng đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Đoàn Văn H và Nguyễn Văn H1 có quan hệ quen biết và ở cùng thôn. Tối ngày 17/9/2021, Đoàn Văn H đến nhà Nguyễn Văn H1 chơi, tại đây, Nguyễn Văn H1 hỏi Đoàn Văn H “Có chương trình gì cho anh chơi với, anh góp 100.000 đồng”, ý là có chƣơng trình sử dụng ma túy không cho Nguyễn Văn H1 góp 100.000 đồng mua ma túy về cùng sử dụng (Nguyễn Văn H1 không đƣa số tiền trên cho Đoàn Văn H), Đoàn Văn H đồng ý và để thiết kế. Khi đang ở nhà Nguyễn Văn H1 thì có Nguyễn Thị T, sinh ngày 03/5/2004 và Hà Thị Tr đi xe taxi đến. Sau đó, Đoàn Văn H bảo cả nhóm đi đến khách sạn F ở thôn X, xã H, huyện Tứ Kỳ, Đoàn Văn H vào thuê 02 phòng PB-213 và PB-216 do ông Phạm Văn P quản lý. Thuê phòng xong, Đoàn Văn H bảo Nguyễn Văn H1, Nguyễn Thị T, Hà Thị Tr lên phòng ngồi chơi. Cả nhóm đang ngồi tại phòng PB-213 có Vũ Văn N đến cho Đoàn Văn H vay 3.500.000 để chuộc xe. Khoảng 22 giờ cùng ngày, Đoàn Văn H gọi xe taxi cùng Nguyễn Văn H1, T, Tr đi sang thị trấn Thanh Hà, huyện Thanh Hà để mua ma túy (T, Tr chỉ biết Đoàn Văn H rủ đi chơi, không biết đi mua ma túy). Khi đến thị trấn T, huyện Thanh Hà, Đoàn Văn H xuống xe một mình đi ra khu vực gần quán Karaoke Saphia mua của một nam thanh niên tự giới thiệu là Tuấn Anh 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa ma túy tổng hợp là các hạt tinh thể màu trắng. Đoàn Văn H cất ma túy vào ngƣời và lên xe taxi cùng những ngƣời còn lại về nhà nghỉ F. Khi về đến cổng Công ty TNHH Richway thuộc đƣờng 391 xã Đ, huyện Tứ Kỳ, Đoàn Văn H xuống gặp và đón Vũ Văn N cùng về nhà nghỉ. Đoàn Văn H bảo Nguyễn Văn H1 về nhà lấy đồ nên Nguyễn Văn H1 tiếp tục ngồi taxi cùng T, Tr về nhà mình lấy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy mang đến nhà nghỉ F để cùng những ngƣời khác sử dụng ma túy. Về đến nhà nghỉ, Đoàn Văn H chia ma túy mua đƣợc thành 2 gói, 01 gói nhỏ đƣa cho Nguyễn Văn H1, số ma túy còn lại Đoàn Văn H để nguyên trong gói nilon cho vào vỏ bao thuốc lá Thăng Long cất giấu tại ô thoáng nhà vệ sinh phòng PB-213. Trƣớc đó, Nguyễn Văn Đ gọi điện cho Đoàn Văn H hỏi “có chỗ nào chơi đƣợc ma túy đá không cho tao chơi với”, H bảo Đ đến phòng PB-216 nhà nghỉ F. Nguyễn Văn H1 cầm gói ma túy do Đoàn Văn H đƣa, cho một nửa số ma túy vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy rồi hơ lửa cho bản thân cùng Đoàn Văn H, N, N1, K, Đ, T sử dụng trái phép, Hà Thị Tr ở phòng PB-2013 bị đau bụng và đi về trƣớc không sử dụng ma túy. Khi cả nhóm sử dụng hết ma túy trong coóng, Nguyễn Văn H1 lấy số ma túy còn lại trong túi nilon cho vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy cho cả nhóm cùng sử dụng. Đến 02 giờ 30 phút, ngày 18/9/2021, khi cả nhóm đang sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng PB-216 nhà nghỉ F thì bị lực lƣợng Công an huyện Tứ Kỳ phối hợp với Công an xã H phát hiện, kiểm tra lập biên bản vụ việc, thu giữ các vật chứng gồm: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 chai nhựa, phần nắp chai đƣợc đục lỗ cắm 01 coóng thủy tinh và 01 ống hút nhựa, 01 bật lửa gas nhãn hiệu Hoa Việt tại phòng PB-216; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 01 túi nilon chứa các hạt tinh thể màu trắng tại ô thoáng buồng vệ sinh phòng PB-213, Đoàn Văn H khai nhận là ma túy bị cáo mua về cất giấu mục đích để sử dụng.
Tại bản kết luận giám định số 540/KLGĐ-PC09 ngày 20/9/2021, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dƣơng kết luận: Chất rắn (dạng tinh thể) mầu trắng trong túi nilon màu trắng đƣợc niêm phong trong phong bì gửi đến giám định có khối lƣợng 4,437 gam là ma túy, loại Methamphetamine:
Tại bản Cáo trạng số: 25/CT-VKSTK ngày 08-4-2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ truy tố các bị cáo Đoàn Văn H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; Nguyễn Văn H1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Tại bản Cáo trạng số: 25a/CT-VKSTK ngày 18-4-2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ truy tố các bị cáo Đoàn Văn H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; Nguyễn Văn H1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng này thay thế bản cáo trạng số 25/CT-VKSTK ngày 08-4-2021
Tại phiên toà: VKSND huyện Tứ Kỳ giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):
Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, các điều 17, 58, 55, 38 BLHS đối với bị cáo Đoàn Văn H; điểm b, c khoản 2 Điều 255, điều 17, 58, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS đối với bị cáo Nguyễn Văn H1;
Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Nguyễn Văn H1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
+ Xử phạt Đoàn Văn H từ 07 năm 06 tháng đến 07 năm 09 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, từ 03 năm 09 tháng đến 04 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc Đoàn Văn H phải chấp hành hình phạt chung cho hai tội từ 11 năm 03 tháng đến 11 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 19/9/2021.
+ Xử phạt Nguyễn Văn H1 từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 09 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 19/9/2021.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS); Tịch thu tiêu hủy 01 bì thƣ niêm phong bên trong có 4,216 gam Methamphetamine là mẫu vật hoàn lại sau giám định, 01 vỏ túi nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long; 01 bật lửa gas nhãn hiệu Hoa Việt; 01 chai nhựa nhãn hiệu Đông Dƣơng nắp chai đƣợc đục hai lỗ gắn 01 ống hút nhựa và 01 coóng thủy tinh.
Bị cáo Đoàn Văn H khai trƣớc đó không quen biết T, Tr, Vũ Văn N là ngƣời gọi điện cho bị cáo bảo đi mua ma túy và thiết kế chỗ cho mọi ngƣời sử dụng ma túy, bảo T, Tr đến nhà H đón, đƣa 3.000.000 đồng cho bị cáo tại nhà nghỉ F đi mua ma túy, Nguyễn Trung K góp 200.000 đồng cho bị cáo đi mua ma túy về cùng sử dụng, bị cáo không mời ai chơi ma túy. Bị cáo Nguyễn Văn H1 khai có chứng kiến Vũ Văn N đƣa tiền cho Đoàn Văn H tại phòng PB-213 nhà nghỉ, trƣớc khi đƣa nghe thấy N nói đây là tiền cho Đoàn Văn H vay để chuộc xe, không góp tiền cho Đoàn Văn H và có biết Đoàn Văn H đi mua ma túy tại huyện Thanh Hà. Khi về đến Công ty Richway Đoàn Văn H bảo bị cáo về lấy đồ sử dụng trái phép chất ma túy. Ngoài các nội dung trên, các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, công nhận quyết định truy tố và luận tội của VKSND huyện Tứ Kỳ đối với các bị cáo là đúng không có ý kiến thắc mắc gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Lời khai nhận tội của các bị cáo trong giai đoạn điều tra phù hợp với lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của ngƣời làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Tối ngày 17/9/2021, Đoàn Văn H cùng với Nguyễn Văn H1, Nguyễn Thị T, Hà Thị Tr đi đến nhà nghỉ F ở thôn N, xã H, Đoàn Văn H đã thuê 02 phòng PB-213 và PB-216 để nghỉ qua đêm. Sau đó Đoàn Văn H cùng những ngƣời trên đia sang địa bàn huyện Thanh Hà mua ma túy. Khoảng 22 giờ cùng ngày, sau khi Đoàn Văn H đi mua đƣợc một túi ma tuý đá tại thị trấn Thanh Hà đem về nhà nghỉ F đã chia số ma tuý sang 01 gói nhỏ đƣa cho Nguyễn Văn H1, số ma tuý còn lại Đoàn Văn H cho vào trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long cất giấu tại ô thoáng nhà vệ sinh phòng PB-213 của nhà nghỉ. Tại phòng PB-216, Nguyễn Văn H1 đã cầm gói ma tuý do Đoàn Văn H đƣa, cho vào bộ dụng cụ sử dụng ma tuý rồi hơ lửa cho bản thân cùng Đoàn Văn H, Vũ Văn N, Đào Văn N1, Nguyễn Trung K, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Thị T sử dụng. Bên cạnh đó Đoàn Văn H còn cất giấu 4,437 gam ma tuý, Methamphetamine tại phòng PB-213 với mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang, thu giữ cùng vật chứng.
Các bị cáo Đoàn Văn H, Nguyễn Văn H1 đều là ngƣời có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; nhận thức đƣợc hành vi bố trí sắp xếp địa điểm, cung cấp ma tuý, dụng cụ để thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật, song vẫn cố ý thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại Điều 255 BLHS. Do Đoàn Văn H, Nguyễn Văn H1 đã tổ chức cho nhiều ngƣời sử dụng trái phép chất ma túy và trong số những ngƣời này có Nguyễn Thị T, sinh ngày 03/5/2004 là ngƣời dƣới 18 tuổi nên các bị cáo phải chịu tình tiết định khung “Đối với 02 ngƣời trở lên” và “Đối với ngƣời từ đủ 13 tuổi đến dƣới 18 tuổi” theo điểm b,c khoản 2 Điều 255 BLHS. Ngoài ra Đoàn Văn H còn có hành vi tàng trữ 4,437 gam Methamphetamine với mục đích sử dụng nên còn cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Nhƣ quyết định truy tố của VKSND huyện Tứ Kỳ đối với các bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nƣớc về các chất ma tuý mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Mặc dù nhận thức đƣợc ma tuý không chỉ gây tác hại rất lớn về sức khỏe cho chính ngƣời sử dụng mà còn làm ảnh hƣởng đến sự phát triển lành mạnh của các thế hệ sau này, là gánh nặng cho gia đình, xã hội và là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác, nhƣng vì mục đích nhằm thỏa mãn cơn nghiện của bản thân, đồng thời để cho các đối tƣợng nghiện chất ma túy trực tiếp sử dụng trái phép nhằm thỏa mãn nhu cầu về sử dụng chất ma túy của họ và ý thức coi thƣờng pháp luật nên bị cáo đã phạm tội. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý theo quy định pháp luật.
Đây là vụ án có hai bị cáo, phạm hai tội danh khác nhau, đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” có đồng phạm, trong đó Đoàn Văn H giữ vai trò chính, là ngƣời đi mua ma tuý về, chia ma tuý đƣa cho Nguyễn Văn H1 và chuẩn bị địa điểm, bảo ngƣời khác đến sử dụng nên bị cáo giữ vai trò chính; Nguyễn Văn H1 tiếp nhận ý chí của Đoàn Văn H, chuẩn bị dụng cụ, trực tiếp cho ma tuý vào coóng, châm lửa hơ cho những ngƣời khác sử dụng nên giữ vai trò thực hành. Đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý chỉ do một mình Đoàn Văn H thực hiện nên bị cáo phải chịu trách nhiệm độc lập do hành vi của mình gây ra.
Xét tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, điều kiện nhân thân của các bị cáo thấy rằng: Các bị cáo Đoàn Văn H và Nguyễn Văn H1 đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 BLHS. Tuy nhiên các bị cáo đều là ngƣời có nhân thân xấu, trong đó Đoàn Văn H đã nhiều lần bị kết án, Nguyễn Văn H1 đã nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính, tuy Đoàn Văn H đã chấp hành xong bản án, Nguyễn Văn H1 chấp hành xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính, đều đƣợc xác định chƣa có tiền án, tiền sự nhƣng điều đó chứng tỏ bị cáo là ngƣời có nhân thân không tốt.
Xét quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Vì vậy, HĐXX xem xét, giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, nhƣng dù có giảm nhẹ vẫn cần thiết buộc các bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để chấp hành hình phạt tù mới đủ tác dụng giáo dục riêng các bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung trong xã hội. Do bị cáo Đoàn Văn H phạm hai tội nên cần tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội theo đúng quy định tại Điều 55 BLHS.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo đều là ngƣời sử dụng ma túy, không nghề nghiệp ổn định, không có tài sản gì nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 4,216 gam ma túy, loại Methamphetamine do cơ quan giám định hoàn lại, đây là vật Nhà nƣớc cấm lƣu hành và 01 vỏ túi nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long; 01 bật lửa gas nhãn hiệu Hoa Việt; 01 chai nhựa nhãn hiệu Đông Dƣơng nắp chai đƣợc đục hai lỗ gắn 01 ống hút nhựa và 01 coóng thủy tinh không còn giá trị nên cần tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với nam thanh niên tên Tuấn Anh bán ma tuý cho Đoàn Văn H, quá trình điều tra chƣa làm rõ đƣợc tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Tứ Kỳ không có căn cứ để xử lý. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Vũ Văn N, Đào Văn N1, Nguyễn Trung K, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Thị T. Ngày 04/10/2021, Công an huyện Tứ Kỳ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
Đối với ông Phạm Văn P khi cho Đoàn Văn H thuê phòng nghỉ nhƣng không biết Đoàn Văn H dùng vào mục đích tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và không biết Đoàn Văn H có hành vi có hành vi cất giấu trái phép chất ma tuý nên không phải chịu trách nhiệm. Đối với Đoàn Văn H khai Vũ Văn N và Nguyễn Trung K đƣa tiền cho H đi mua ma tuý về cùng sử dụng, quá trình điều tra không chứng minh đƣợc, cơ quan điều tra đã cho đối chất nhƣng N, K không thừa nhận, tại phiên tòa bị cáo cũng không đƣa ra đƣợc chứng cứ nào khác nên không có căn cứ xử lý. Nguyễn Văn Đ gọi điện hỏi Đoàn Văn H xem có chỗ nào sử dụng ma túy không, H bảo đến nhà nghỉ F, khi đến nơi thì Đ biết H tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho nhiều ngƣời. Tuy nhiên bản thân Đ là ngƣời nghiện, đƣợc H cho sử dụng trái phép chất ma túy, khi Đ cùng những ngƣời khác đang sử dụng ma túy thì bị bắt quả tang, hành vi của Đoàn Văn H cũng đã bị phát hiện và xử lý trong vụ án này nên Đ không hải chịu trách nhiệm về hành vi “không tố giác tội phạm” là phù hợp. Việc Đoàn Văn H và đồng bọn tổ chức sử dụng trái phép ma túy và H cất giấu ma túy tại nhà nghỉ F chị Tr không biết và không tham gia sử dụng ma túy nên không phải chịu trách nhiệm.
Đối với chiếc điện thoại của Đ và H gọi điện cho nhau hỏi, gọi đến nhà nghỉ sử dụng ma túy, nhƣng Đoàn Văn H không nhớ số, sau đó chiếc điện thoại Đ đã làm mất, chiếc điện thoại của Đoàn Văn H đã bị mất ngay đêm 18/9/2021, Cơ quan điều tra không thu giữ đƣợc nên không đặt ra việc xử lý.
Về án phí: Các bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, các điều 17, 58, 55, 38 BLHS đối với bị cáo Đoàn Văn H; điểm b, c khoản 2 Điều 255, điều 17, 58, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS đối với bị cáo Nguyễn Văn H1;
1. Tuyên bố: Các bị cáo Đoàn Văn H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Nguyễn Văn H1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
+ Xử phạt Đoàn Văn H 07(bẩy) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, 04 (bốn)năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc Đoàn Văn H phải chấp hành hình phạt chung cho hai tội là 11 (mười một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 19/9/2021.
+ Xử phạt Nguyễn Văn H1 07(bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 19/9/2021.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 01 bì thƣ niêm phong dán kín, phía bên trái có ghi “công an tỉnh Hải Dƣơng, số 540/KLGĐ-PC09”, bên trong có 4,216 gam ma túy, loại Methamphetamine; 01 vỏ túi nilon màu trắng; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long; 01 bật lửa gas nhãn hiệu Hoa Việt; 01 chai nhựa nhãn hiệu Đông Dƣơng nắp chai đƣợc đục hai lỗ gắn 01 ống hút nhựa và 01 coóng thủy tinh.
(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12/5/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tứ Kỳ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về ...án phí và lệ phí Toà án. Buộc các bị cáo Đoàn Văn H, Nguyễn Văn H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dƣơng; - Sở tƣ pháp tỉnh Hải Dƣơng; - VKSND huyện Tứ Kỳ; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ; - Cơ quan THA hình sự- CA huyện Tứ Kỳ; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dƣơng; - Bị cáo; - Cơ quan CSĐT, Bộ phận hồ sơ NVCS- Công an huyện Tứ Kỳ; - Lƣu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà (Đã ký) Nguyễn Văn Quân |