vanban.org

Bản án 27/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam Tuyên án 20/03/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình sự: căn cứ vào khoản 1 Điều 155, điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 36 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Tuyên bố: bị cáo Phạm SHphạm tội “Làm nhục người khác”. Xử phạt bị cáo Phạm SH15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ; thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã TH, huyện TL, tỉnh Hà Nam nhận được Quyết định thi hành án và bản sao Bản án. Giao bị cáo Phạm SHcho Ủy ban nhân … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm SHphạm tội “Làm nhục người khác”. - phạm tội làm nhục người khác (điều 155 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về hình sự: căn cứ vào khoản 1 Điều 155, điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 36 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TL
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2022/HS-ST
Ngày: 20 - 4 - 2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TL - TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Lại Xuân Cảnh;

Các Hội thẩm nhân dân: bà Lê Thị Hà và ông Quách Xuân Luyện.

- Thư ký phiên toà: bà Hoàng Thị Vân Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TL, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TL, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: bà Dương Thị Kim Thơm - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TL, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 19/2022/TLST-HS ngày 08 tháng 3 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2022/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2022, đối với bị cáo:

- Phạm SH- sinh năm 1965; nơi cư trú: thôn AH, xã TH, huyện TL, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm SH1(đã chết) và bà Nguyễn TL1 (đã chết); có vợ là Lê TH1 và có 02 con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1992; tiền án, tiền sự: không; đặc điểm nhân thân: ngày 25/11/1990, bị Tòa án nhân dân huyện TL, tỉnh Hà Nam Ninh xử phạt 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; tạm giữ, tạm giam: không. Bị cáo được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: bà Phạm TT - sinh năm 1935; nơi cư trú: thôn AH, xã TH, huyện TL, tỉnh Hà Nam; có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Phạm SD; có mặt,

2. Bà Nguyễn TX; vắng mặt,

3. Bà Phạm TT1; vắng mặt,

4. Anh Bùi TP; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm SHvà bà Phạm TT có quan hệ họ hàng gần và là hàng xóm với nhau, trong cuộc sống thường ngày có mâu thuẫn, thường xuyên có lời qua tiếng lại, chửi nhau. Khoảng 06 giờ ngày 19/8/2021, bà T đang đứng trong sân nhà mình gọi chó: “chó về bà xích để bà đi chợ”, thì đúng lúc này H đi tập thể dục về, đi bộ qua trước cổng nhà bà T và nghe thấy. Cho rằng bà T chửi mình, nên H nói: “Đ.M con già, tao đã không muốn dây với mày rồi mà mày cứ thích dây với tao”; rồi hai bên xảy ra to tiếng cãi, chửi nhau. Sau đó, H đi về khu vực cổng nhà mình cách nhà bà T khoảng 10m, thì nhìn thấy 01 bãi phân chó khô ở gần đó. H liền dùng tay phải nhặt 01 cục phân chó, rồi cầm quay lại nhà bà T. Lúc này, bà T đang ngồi trên bậc tam cấp trước cửa nhà, H nói: “con già, tao nhét cứt vào mồm mày bây giờ”, rồi H tiến lại gần vị trí bà T ngồi, đứng ở bậc tam cấp dùng tay trái nắm, giữ cổ tay phải của bà T, chân trái ghì chặt chân phải của bà T, còn tay phải cầm cục phân chó khô nhét vào miệng bà T. Bà T liền dùng 01 đoạn gậy gỗ dùng để chống gậy đang cầm trên tay trái, vụt 02 nhát trúng người H và hô hoán gọi cháu nội là anh Phạm SD - sinh năm 1995, trú ở cùng địa chỉ đang ngủ ở trong nhà. Anh DG nghe thấy nên chạy ra thì thấy bà T đang nằm dưới nền nhà trước cửa phòng ngủ của bà T, còn H đang đứng ở bậc lên xuống, chân trái của H đang ghì chân phải của bà T, tay trái của H cầm cổ tay phải bà T, còn tay phải đang giữ vùng miệng, mặt của bà T. Thấy vậy, anh DG chạy đến đẩy H ra, thì H bỏ bà T ra rồi đi về nhà. Anh DG đỡ bà T ngồi dậy, khi ngồi dậy, bà T nhổ phân chó từ trong miệng ra. Thấy trên trán và mép trái của bà T vẫn bám dính phân chó, nên anh DG lấy khăn lau miệng, mặt cho bà T rồi quét dọn phân chó rơi vãi trên nền nhà. Khi anh DG quét dọn xong thì bà Nguyễn TX - sinh năm 1975, trú ở cùng thôn đi qua, thấy bà T đang ngồi chửi bới nên đi vào hỏi thăm, anh DG nói: “ông H vừa đánh bà cháu”. Bà Xuyên ngồi xuống cạnh bà T, ngửi thấy mùi hôi thối nên hỏi: “cứt đái ở đâu mà thối thế?”, thì anh DG trả lời: “H nhét cứt vào mồm bà cháu”. Sau đó, bà Xuyên đi về nhà, còn anh DG gọi điện thoại cho người thân đến đưa bà T đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam kiểm tra sức khỏe.

Sau đó, anh DG làm đơn trình báo cơ quan Công an. Nhận được đơn trình báo, Cơ quan CSĐT - Công an huyện TL đã tiến hành khám nghiệm hiện trường và thu giữ 01 gậy gỗ kích thước (110 x 2)cm do bà Phạm TT tự nguyện giao nộp. Sau khi sự việc xảy ra, bà T cảm thấy rất nhục nhã, bị ảnh hưởng tới tâm lý, sinh hoạt và sức khỏe của mình, nên đã làm đơn đề nghị khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Phạm Sỹ H.

* Về trách nhiệm dân sự: bà Phạm TT không yêu cầu Phạm SHphải bồi thường.

Tại bản Cáo trạng số 23/CT-VKSTL ngày 08/3/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện TL đã truy tố Phạm SHvề tội “Làm nhục người khác” theo quy định tại khoản 1 Điều 155 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TL giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Phạm SHphạm tội “Làm nhục người khác”. Áp dụng khoản 1 Điều 155, điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 36, Điều 50 của Bộ luật Hình sự - xử phạt Phạm SHtừ 15 đến 21 tháng cải tạo không giam giữ; miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xử lý vật chứng: tịch thu, tiêu hủy 01 gậy gỗ.

- Bị cáo Phạm SHchỉ thừa nhận việc cầm phân chó để dọa bà T chứ không quệt hay nhét phân chó vào miệng bà T; tại Công an xã TH, bị cáo khai nhận có quệt phân chó vào miệng bà T là do lúc đó bị cáo đang bực tức và tinh thần không ổn định.

- Người làm chứng trình bày những tình tiết về vụ án mà mình biết như đã khai báo tại Cơ quan điều tra.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm SHkhông thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Tuy nhiên, tại bản kiểm điểm, bản tường trình và lời khai ban đầu tại Công an xã TH, Phạm SHđã thừa nhận hành vi quệt phân chó vào miệng bà Phạm TT. Sau đó, H thay đổi lời khai, chỉ thừa nhận có cãi chửi nhau với bà T, dùng tay phải cầm phân chó lại gần chỗ bà T ngồi để dọa bà T, không quệt, nhét phân chó vào miệng bà T. Căn cứ vào lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định: khoảng 06 giờ ngày 19/8/2021, tại khu vực trước cửa phòng ngủ nhà bà Phạm TT ở thôn AH, xã TH, huyện TL, tỉnh Hà Nam, Phạm SHđã có lời qua tiếng lại, cãi chửi nhau với bà T. Sau đó, H dùng tay trái nắm giữ cổ tay phải, chân trái ghì chặt chân phải bà T, rồi dùng tay phải nhét 01 cục phân chó khô vào miệng bà T, làm bà T cảm thấy rất nhục nhã và bị ảnh hưởng đến tâm lý, sức khỏe, sinh hoạt hàng ngày.

Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự của người khác được pháp luật bảo vệ, gây dư luận xấu ở địa phương. Bản thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử kết luận: Viện kiểm sát nhân dân huyện TL truy tố Phạm SHvề tội “Làm nhục người khác” theo quy định tại khoản 1 Điều 155 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: bị cáo có nhân thân xấu.

Về tình tiết tăng nặng: bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “phạm tội đối với người từ đủ 70 tuổi trở lên” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo không được hưởng tình tiết giảm nhẹ nào theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt:

- Hình phạt chính: qua xem xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt nghiêm nhất của khung hình phạt là “cải tạo không giam giữ” đối với bị cáo, mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung. Bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, nên miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

- Hình phạt bổ sung: bị cáo là lao động tự do, không có chức vụ gì, nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

[6] Về xử lý vật chứng: đối với 01 gậy gỗ, là tài sản thuộc quyền sở H hợp pháp của bà Phạm TT, bà T đã dùng gậy này để vụt vào người Phạm Sỹ H; gậy này hiện không có giá trị, nên cần tịch thu, tiêu hủy.

[7] Các vấn đề khác:

- Đối với hành vi của bà Phạm TT đã dùng gậy gỗ vụt 02 nhát trúng người Phạm Sỹ H: bà T vụt H với mục đích để chống trả lại H, bản thân H không bị thương tích gì và không có yêu cầu, đề nghị gì, nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện TL không xem xét, xử lý đối với bà T về hành vi này là đúng pháp luật.

[8] Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình sự: căn cứ vào khoản 1 Điều 155, điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 36 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Tuyên bố: bị cáo Phạm SHphạm tội “Làm nhục người khác”.

- Xử phạt bị cáo Phạm SH15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ; thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã TH, huyện TL, tỉnh Hà Nam nhận được Quyết định thi hành án và bản sao Bản án. Giao bị cáo Phạm SHcho Ủy ban nhân dân xã TH, huyện TL, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình của bị cáo Phạm SHcó trách nhiệm phối hợp với UBND xã TH trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Bị cáo Phạm SHphải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.

2. Xử lý vật chứng: tịch thu, tiêu hủy 01 gậy gỗ (chi tiết vật chứng như trong Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 10/3/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện TL với Chi cục Thi hành án dân sự huyện TL).

3. Án phí: bị cáo Phạm SHphải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo đối với bản án: bị cáo có mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

5. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.

Cỡ chữ