- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L phạm tội “Buôn bán hàng cấm ". - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Buôn bán hàng cấm ".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 190 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐẮK NÔNG Bản án số: 27/2019/HS-ST Ngày 01-7-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Tuân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Hữu Tỷ và ông Phạm Xuân Đức.
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Đình Hưng – Thư ký Toà án nhân dân
huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong tham gia phiên toà:
Ông Trần Việt Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2019/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2019/QĐXXST-HS ngày 21/6/2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn L, sinh năm 1990 tại tỉnh Nghệ An; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn 8, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; chỗ ở trước khi phạm tội: Tổ dân phố 4, phường N, thị xã G, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn V và bà Nguyễn Thị X; vợ là Phạm Thị T (đã ly hôn) và 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2014; tiền sự: 01 tiền sự (Ngày 15/3/2018, bị Công an huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông xử phạt vi phạm hành chính về hành vi buôn bán pháo nổ với mức phạt là 7.500.000 đồng); bị bắt tạm giữ từ ngày 30/01/2019 đến ngày 08/02/2019; bị bắt tạm giam ngày 05/3/2019, đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Đắk Glong. Có mặt.
Người làm chứng: Anh Hồ Văn Hào, sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn Q, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Vắng mặt.
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng đầu tháng 12/2018, L gặp người đàn ông tên là Nam (không xác định được nhân thân, lai lịch) tại tổ dân phố 3, phường N, thị xã G, tỉnh Đắk Nông. Qua nói chuyện, biết Nam bán pháo nổ với giá rẻ nên L đã mua 08 bịch với số tiền 3.000.000 đồng để bán lại cho người khác kiếm lời; khoảng giữa tháng 12/2018, L đã bán 02 bịch pháo nổ cho một người đàn ông (không xác định được nhân thân, lai lịch) tại thị xã Gia Nghĩa được số tiền 900.000 đồng; sáng ngày 30/01/2019, L mang theo 06 bịch pháo nổ còn lại, bắt xe khách từ thị xã G đi đến xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông để bán; khoảng 13 giờ 45 phút cùng ngày L đang tìm người mua pháo trên đoạn đường thuộc thôn Q, xã Q thì bị Công an huyện Đ bắt quả tang.
Vật chứng vụ án thu giữ được: 05 bịch nilon trong suốt, bên trong có 471 vật hình cầu vỏ bằng nhựa, đường kính mỗi vật là 2,8 cm, trên mỗi vật có gắn đoạn dây màu xanh; 01 bịch nilon trong suốt, bên trong có 100 vật hình cầu vỏ bằng nhựa, đường kính mỗi vật là 1,9 cm, trên mỗi vật có gắn đoạn dây màu xanh.
Tại bản Kết luận giám định số 116/C09C (Đ3, Đ4) ngày 14/02/2019 của Phân viện khoa học hình sự - Bộ Công an tại thành phố Đà Nẵng kết luận: 471 vật hình cầu vỏ bằng nhựa, đường kính mỗi vật là 2,8 cm, trên mỗi vật có gắn đoạn dây màu xanh; đựng trong 05 bịch ni lon gửi giám định đều là pháo nổ, có khối lượng 2,15 kilôgam. 100 vật hình cầu vỏ bằng nhựa, đường kính mỗi vật là 1,9 cm, trên mỗi vật có gắn đoạn dây màu xanh; đựng trong 01 bịch nilon gửi giám định đều là pháo nổ, có khối lượng 0,22 kilôgam. Tổng trọng lượng pháo nổ là 2,37 kilôgam. Hoàn trả lại mẫu vật còn lại sau giám định gồm: 466 vật hình cầu vỏ bằng nhựa, đường kính mỗi vật là 2,8 cm, trên mỗi vật có gắn đoạn dây màu xanh, tương ứng với 2,13 kilôgam pháo nổ; 95 vật hình cầu vỏ bằng nhựa, đường kính mỗi vật là 1,9 cm, trên mỗi vật có gắn đoạn dây màu xanh, tương ứng với 0,21 kilôgam pháo nổ.
Tại bản cáo trạng số 30/CT-VKS, ngày 27/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk GL đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm e khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo như bản cáo trạng. Sau khi phân tích các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị: Áp dụng điểm e khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn L từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; tịch thu tiêu hủy các vật chứng còn lại sau giám định.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn L đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo như cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Tại lời nói sau cùng, bị cáo chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Đắk Glong, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng đầu tháng 12 năm 2018, L mua 08 bịch pháo nổ của một người tên là Nam để bán lại kiếm lời và đã bán được 02 bịch pháo; khoảng 13 giờ 45 phút ngày 30/01/2019, L đang mang 06 bịch pháo đi bán thì bị Công an huyện Đắk GL bắt quả tang; khối lượng pháo nổ thu được là 2,37 kilôgam, thấp hơn mức định lượng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, L có 01 tiền sự về hành vi buôn bán pháo nổ nên hành vi của bị cáo đã phạm tội "Buôn bán hàng cấm" theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự:
"1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 244, 246, 248, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
c) Sản xuất, buôn bán pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;
…
e) Sản xuất, buôn bán hàng hóa dưới mức quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản này nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 188, 189, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.:
…"
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý đối với các loại hàng hoá mà Nhà nước cấm kinh doanh. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong truy tố bị cáo về tội "Buôn bán hàng cấm" theo điểm e khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo đồng thời ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, điều luật áp dụng và mức hình phạt là phù hợp nên cần chấp nhận. Tại phiên tòa bị cáo trình bày có bố là người có công với cách mạng được tặng giấy khen nhưng không biết hình thức và cấp khen thưởng; bị cáo không có chứng cứ chứng minh trình bày nêu trên nên không xem xét.
. Về xử lý vật chứng: Số lượng pháo nổ bị cáo buôn bán còn lại sau giám định là hàng cấm kinh doanh nên cần tịch thu tiêu hủy.
. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Buôn bán hàng cấm ".
Áp dụng điểm e khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 05/3/2019), được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 30/01/2019 đến ngày 08/02/2019.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 466 vật hình cầu vỏ bằng nhựa, đường kính mỗi vật là 2,8 cm, trên mỗi vật có gắn đoạn dây màu xanh, tương ứng với 2,13 kilôgam pháo; 95 vật hình cầu vỏ bằng nhựa, đường kính mỗi vật là 1,9 cm, trên mỗi vật có gắn đoạn dây màu xanh, tương ứng với 0,21 kilôgam pháo. (Đặc điểm vật chứng theo biên bản bản giao, nhận vật chứng ngày 28/5/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông).
3. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận : - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND tỉnh Đắk Nông; - Sở Tư pháp tỉnh Đ; - VKSND huyện Đắk Glong; - Cơ quan CSĐT CA huyện Đắk Glong; - Bộ phận hồ sơ CA huyện Đ; - Chi cục THA.DS huyện Đ; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký tên và đóng dấu) Vũ Văn Tuân |