vanban.org

Bản án 27/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 26/01/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

luật tố tụng hình sự năm 2015.

tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T (tên gọi khác: B) phạm tội “Trộm cắp tài Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoàng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? luật tố tụng hình sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP NHA TRANG
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:27/2018/ HSST
Ngày:26/01/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ngô Tiến Thành

2. Ông Nguyễn Đức Đẹp

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Tuân - Cán bộ Toà án nhân dân thành phố Nha Trang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Trang – Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 26 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố

Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 371/2017/HSST ngày 24 tháng 11 năm 2017, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2018/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2018/HSST-QĐ ngày 16 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Hoàng T (tên gọi khác: B) – Sinh năm: 1989; Nơi ĐKHKTT: 32/11

Quang Trung, phường Vạn Thắng, thành phố Nha Trang; Chỗ ở: 32/11 Q, phường V, thành phố Nha Trang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Cha:Nguyễn Phước T, sinh năm: 1965; Mẹ: Nguyễn Thị Kim C , sinh năm: 1967.

Tiền án:

- Bản án số: 110 ngày 25/6/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang,

xử phạt 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/9/2010;

- Bản án số: 167 ngày 03/8/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang,

xử phạt 9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/3/2012;

- Bản án số: 257 ngày 05/11/2012, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xử

phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/9/2014.

- Bản án số: 27 ngày 24/02/2017, Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt 03

năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đang T hành án phạt tù tại trại giam A2.

Nhân thân:

- Ngày 22/5/2006, bị Ủy ban nhân dân Tp Nha Trang quyết định đưa vào Cơ

sở chữa bệnh bắt buộc vì nghiện ma túy. Chấp hành xong ngày 23/5/2008.

- Bản án số 292/2008/HS-ST ngày 15/12/2008, Tòa án nhân dân thành phố

Nha Trang xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/6/2009.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Ngư i ị hại : Anh Nguyễn Quang L

Sinh năm: 1978

Chỗ ở: 168/7 T, phường P, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt

tại phiên tòa.

* Người có quyền L, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Văn H (M)

Sinh năm: 1993

Chổ ở: Tổ 9, thôn P, xã V, thành phố Nha Trang; vắng mặt tại phiên tòa.

2. Bà Nguyễn Thị G

Sinh năm: 1970

Trú tại: 80/15 V, phường P, thành phố Nha Trang

Chổ ở: Số 25, tổ 9, xã V, thành phố Nha Trang; vắng mặt tại phiên tòa.

3. Ông Phan Văn E

Sinh năm: 1960

Chổ ở: 156/3/3 P, phường P, thành phố Nha Trang; vắng mặt tại phiên tòa.

4. Bà Phạm Bích N

Chổ ở: 35 C, phường V, thành phố Nha Trang; vắng mặt tại phiên tòa.

Ngư i làm chứng:

1. Anh Phan Ngọc T

Sinh năm: 1991

Chổ ở: Xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt tại phiên tòa.

2. Anh Phạm Anh Đ

Sinh năm: 1994

Chổ ở: 19A K, phường P, thành phố Nha Trang; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 00 giờ ngày 18/03/2017, Nguyễn Hoàng T gặp Nguyễn Văn H

tại quán internet trên đường V, thành phố Nha Trang, tại đây cả hai bàn bạc đi trộm cắp tài sản để có tiền mua ma túy sử dụng. H điều khiển xe máy hiệu Attila, biển kiểm soát: 79L2 – 1331, chở T đi vòng trên các tuyến đường tìm cơ hội thực hiện hành vi phạm tội. Khi đến đường 2/4, đoạn gần trường THCS T, phát hiện 01 chiếc xe ô tô tải, biển kiểm soát: 79D – 3011 của anh Nguyễn Quang L đậu trên đường không có người trông coi. H và T dùng kìm, cờ lê tháo lấy trộm 01 bình ắc quy. Sau đó, cả hai điều khiển xe máy trên mang tài sản vừa trộm cắp được đi tiêu thụ, khi đến đường ray xe lửa trên đường L, thì bị anh Phan Ngọc T và Phạm Anh Đ nghi vấn đuổi theo bắt giữ cùng tang vật giao cho Công an thành phố Nha Trang. Tại Cơ quan công an, T và H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Tại biên bản định giá tài sản số 84/TCKH ngày 23/03/2017 của Hội đồng định

giá tài sản trong tố tụng hình sự xác định: 01 (một) bình ắc quy Đồng Nai 100Ah-12V, có giá trị là: 1.462.000 đ (Một triệu bốn trăm sáu mươi hai nghìn đồng).

Tại bản Cáo trạng số 281/CT-VKS ngày 22 tháng 11 năm 2017, Viện kiểm

sát nhân dân thành phố Nha Trang truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng T (tên gọi khác: B) về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự.

Đối với Nguyễn Văn H, chưa bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt,

chưa bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, thực hiện hành vi trộm cắp tài sản dưới 2.000.000đ. Ngày 24/10/2017, bị Công an thành phố Nha Trang quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC, xử phạt Nguyễn Văn H với số tiền là 2.000.000đ.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang

vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Hoàng T (tên gọi khác: B) về tội “Trộm cắp tài sản”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự, điểm g, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hoàng T (tên gọi khác: B); xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T (tên gọi khác: B) mức án từ 12 (mười hai) tháng đến 15 (mười lăm) tháng tù. Tổng hợp hình phạt đối với bản án số 27 ngày 24/02/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung từ 04 năm đến 04 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam để T hành án. Về trách nhiệm dân sự: người bị hại vắng mặt, nên tách ra thành vụ án dân sự khác khi người bị hại có đơn yêu cầu. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu tiêu hủy 01 cờ lê; 01 kiềm màu đỏ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/11/2017 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Nha Trang với Chi cục T hành án dân sự thành phố Nha Trang; Đối với 01 xe máy hiệu Attila màu đen, biển kiểm sát 79L2-1331, số máy BCD029127, số khung DD6D029127 và 01 Giấy đăng ký mô tô, xe máy số 0008968 ngày 21/3/2006 do Phòng Cảnh sát giao thông - Công an tỉnh Khánh Hòa cấp cho ông Phan Văn E. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra ông Phan Văn E khai, đã bán chiếc xe này cho bà Nguyễn Thị G. Lời khai của ông Phan Văn E phù hợp với lời khai của bà Nguyễn Thị G vì vậy giao cho Cơ quan T hành án Dân sự thành phố Nha Trang trả cho bà Nguyễn Thị G; tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hoàng T (tên gọi khác: B) thừa nhận toàn bộ

hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Tại phiên tòa hôm nay, người bị hại anh Nguyễn Quang L và người có quyền

L, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn H (M) có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khác và người làm chứng vắng mặt lần hai không có lý do. Xét thấy việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử hành vi phạm tội của bị cáo, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 và Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hoàng T (tên gọi khác: B) đã khai nhận để có

tiền mua ma túy sử dụng nên khoảng 00 giờ ngày 18/03/2017, Nguyễn Hoàng T bàn bạc với Nguyễn Văn H đi trộm cắp tài sản. H điều khiển xe máy hiệu Attila, biển kiểm soát: 79L2 – 1331, chở T đi vòng trên các tuyến đường tìm cơ hội thực hiện hành vi phạm tội. Khi đến đường 2/4, đoạn gần trường THCS T, phát hiện 01 chiếc xe ô tô tải, biển kiểm soát: 79D – 3011 của anh Nguyễn Quang L đậu trên đường không có người trông coi. H và T dùng kìm, cờ lê tháo lấy trộm 01 bình ắc quy Đồng Nai 100Ah-12V. Giá trị tài sản mà bị cáo trộm cắp là: 1.462.000 đồng (Một triệu bốn trăm sáu mươi hai nghìn đồng).

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản tiếp nhận tố giác, tin báo về tội

phạm; lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm vấn công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Cáo trạng số 281/CT-VKS ngày 22 tháng 11 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng T (tên gọi khác: B) về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến

quyền sở hữu của công dân, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương. Bị cáo đã có 04 tiền án và nhân thân xấu, nhưng không lo tu dưỡng rèn luyện đạo đức, làm ăn chân chính lương thiện mà lại thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, thể hiện tính tham lam, tư lợi và coi thường pháp luật của bị cáo.Tuy nhiên tài sản mà bị cáo trộm cắp đã trả lại cho người bị hại. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần Tết phải xử lý bị cáo thật nghiêm khắc, cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn

Hoàng T (tên gọi khác: B) đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo, tu dưỡng trở thành công dân có ích cho xã hội.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 cờ lê; 01 kiềm màu đỏ mà bị cáo Nguyễn Hoàng T (tên gọi khác: B)

dùng để tháo trộm 01 bình ác quy của người bị hại, đây là công cụ phạm tội không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử căn cứ theo điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hủy 01 cờ lê; 01 kiềm màu đỏ (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/11/2017 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Nha Trang với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang).

Đối với 01 xe máy hiệu Attila màu đen, biển kiểm sát 79L2-1331, số máy

BCD029127, số khung DD6D029127 và 01 Giấy đăng ký mô tô, xe máy số 0008968 ngày 21/3/2006 do Phòng Cảnh sát giao thông - Công an tỉnh Khánh Hòa cấp cho ông Phan Văn E. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra ông Phan Văn E khai, đã bán chiếc xe này cho bà Nguyễn Thị G (Bút lục 76) và bà Nguyễn Thị G cũng thừa nhận mua xe của ông Phan Văn E (Bút lục 73). Do đó Hội đồng xét xử căn cứ theo điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, giao cho cơ quan Thi hành án Dân sự thành phố Nha Trang trả xe và giấy tờ nói trên cho bà Nguyễn Thị G theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự:

+ Người bị hại anh Nguyễn Quang L có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Hội

đồng xét xử tách ra để giải quyết bằng vụ án dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự, khi đương sự có yêu cầu.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hoàng T (tên gọi khác: B) phải chịu án phí hình

sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 138 và điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm

1999.

Căn cứ điểm a khoản 2, điểm b Khoản 3 Điều 106, Điều 135 và Điều 136 Bộ

luật tố tụng hình sự năm 2015.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30

tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1.Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T (tên gọi khác: B) phạm tội “Trộm cắp tài

sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T (tên gọi khác: B) 15 (mư i lăm) tháng tù.

Tổng hợp hình phạt đối với bản án số 27 ngày 24/02/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt bị cáo 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng T (tên gọi khác: B) phải chấp hành hình phạt chung 04 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/7/2017.

2. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại, anh Nguyễn Quang L có đơn xin xét

xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tách ra để giải quyết bằng vụ án dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự, khi anh L có yêu cầu.

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 cờ lê; 01 kiềm màu đỏ.

- Giao cho cơ quan Thi hành án Dân sự thành phố Nha Trang trả cho bà

Nguyễn Thị G 01 (một) xe mô tô hiệu Attila, màu đen, biển kiểm sát 79L2-1331, số máy BCD029127, số khung DD6D029127 và 01 Giấy đăng ký mô tô, xe máy số 0008968 ngày 21/3/2006 do Phòng Cảnh sát giao thông - Công an tỉnh Khánh Hòa cấp cho ông Phan Văn E theo quy định của pháp luật.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/11/2017 giữa Cơ quan cảnh sát

điều tra Công an thành phố Nha Trang với Chi cục T hành án dân sự thành phố Nha Trang).

4. Về án phí:

Bị cáo Nguyễn Hoàng T (tên gọi khác: B) phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn

đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm

trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ