vanban.org

Bản án 2686/2024/QĐST-LĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

Thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 25/06/2024 Lao động Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của người yêu cầu bà Đào Ngọc Út L.

Tuyên bố hợp đồng lao động được ký kết giữa bà Đào Ngọc Út L (do bà Đào Ngọc Đ ký) và Công ty Trách nhiệm hữu hạn G trong khoảng thời gian từ tháng 5/2013 đến tháng 12/2017 là vô hiệu. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Đào Ngọc Út L, Công ty Trách nhiệm hữu hạn G, bà Đào Ngọc Đ không yêu cầu Tòa án giải … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "DAO NGOC UT L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của người yêu cầu bà Đào Ngọc Út L.
  • Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 2686/2024/QĐST-LĐThành phố Thủ Đức, ngày 25 tháng 6 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Phương Châu

Thư ký phiên họp: Bà Lưu Thị Ngọc Hương

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Trịnh Thị Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 176/2023/TLST-LĐ ngày 15 tháng 11 năm 2023 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 3927/2024/QĐST-LĐ ngày 10 tháng 6 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Đào Ngọc Út L, sinh năm 1973

Địa chỉ: xã L, huyện P, tỉnh Hậu Giang (có đơn xin vắng mặt).

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

2.1 Công ty Trách nhiệm hữu hạn G

Trụ sở: đường Q, Khu phố S, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Trung, sinh năm 1985

Địa chỉ liên lạc: đường Q, Khu phố S, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt).

2.2 Bà Đào Ngọc Đ, sinh năm 1963

Địa chỉ: xã L, huyện P, tỉnh Hậu Giang (có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

1. Người yêu cầu bà Đào Ngọc Út L trình bày:

Vào tháng 5/2013, bà Đào Ngọc Út L cho chị ruột là bà Đào Ngọc Đ mượn chứng minh nhân dân mang tên bà L số 363757382 do Công an tỉnh Hậu Giang cấp ngày 05/3/2010 để ký hợp đồng lao động với Công ty Trách nhiệm hữu hạn G (viết tắt là Công ty G) do bà Đ đã lớn tuổi, sợ không được nhận vào làm việc. Công ty G đã nộp bảo hiểm xã hội cho bà Đ dưới tên của bà L từ tháng 5/2013 đến tháng 12/2017. Trong khoảng thời gian này, bà L đang làm việc tại Công ty Q (viết tắt là Công ty Q) và Công ty Q đã đóng bảo hiểm xã hội cho bà L.

Đầu năm 2023, bà L làm thủ tục lãnh bảo hiểm xã hội một lần thì phát hiện hồ sơ bảo hiểm xã hội của bà L tại Công ty Q trùng với hồ sơ bảo hiểm xã hội của bà Đ mang tên bà L tại Công ty G. Do đó, bà L yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động được ký kết giữa bà Đào Ngọc Út L (do bà Đào Ngọc Đ ký) và Công ty G trong khoảng thời gian từ tháng 5/2013 đến tháng 12/2017 là vô hiệu. Bà L không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng lao động nêu trên vô hiệu.

Ngoài ra, bà L không có yêu cầu nào khác. Do bận công việc bà L xin được vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Trách nhiệm hữu hạn G do ông Nguyễn Văn Trung làm đại diện trình bày:

Tháng 5/2013, Công ty G và bà L, sinh năm 1973, chứng minh nhân dân số xxxxxxxxx do Công an tỉnh Hậu Giang cấp ngày 03/5/2010 ký hợp đồng lao động xác định thời hạn 12 tháng. Bà L làm việc đến tháng 12/2017. Từ tháng 01/2018, bà L đã chuyển sang làm việc tại Công ty khác. Công ty G đã tham gia đóng bảo hiểm xã hội cho bà L với mã số 7913141815. Từ khi nghỉ việc, bà L không thông báo cho Công ty biết về việc mã số bảo hiểm xã hội của bà L bị trùng với đơn vị khác. Công ty G đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu của bà L theo quy định của pháp luật. Công ty G không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu của hợp đồng lao động giữa bà L và Công ty G vô hiệu. Do bận công việc, Công ty G xin được vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ việc.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đào Ngọc Đ trình bày:

Từ tháng 5/2013 đến tháng 12/2017, bà Đ có mượn chứng minh nhân dân của bà L để đi làm tại Công ty G và có tham gia bảo hiểm xã hội dưới tên bà L do bà Đ đã lớn tuổi, sợ Công ty không nhận vào làm việc. Bà L yêu cầu tuyên bồ hợp đồng lao động được ký kết giữa và Út Lớn và Công ty G từ tháng 5/2013 đến tháng 12/2017 vô hiệu thì bà Đ đồng ý. Bà Đ không có yêu cầu nào khác. Do tuổi cao, đi lại khó khăn, bà Đ xin được vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ việc.

4. Tại phiên họp:

Người yêu cầu bà Đào Ngọc Út L xin được vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động được ký kết giữa bà Đào Ngọc Út L (do bà Đào Ngọc Đ ký) và Công ty G trong khoảng thời gian từ tháng 5/2013 đến tháng 12/2017 là vô hiệu.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Trách nhiệm hữu hạn G, bà Đào Ngọc Đ xin được vắng mặt.

5. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Qua kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng kể từ khi thụ lý cho đến tại phiên họp, Thẩm phán và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Đào Ngọc Út L về việc tuyên bố hợp đồng lao động được ký kết giữa bà Đào Ngọc Út L (do bà Đào Ngọc Đ ký) và Công ty G trong khoảng thời gian từ tháng 5/2013 đến tháng 12/2017 là vô hiệu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Bà Đào Ngọc Út L yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu. Bà Đ mượn chứng minh nhân dân của bà L làm việc tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn G tại địa chỉ đường Q, Khu phố S, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 1 Điều 33, khoản 2 Điều 35 và điểm v khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, việc dân sự là “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người yêu cầu bà Đào Ngọc Út L, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Trách nhiệm hữu hạn G, bà Đào Ngọc Đ có đơn xin vắng mặt tại phiên họp. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên họp vắng mặt người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Về nội dung:

Xét yêu cầu của bà L, nhận thấy:

Căn cứ Văn bản số 1694/BHXH-TST ngày 19/4/2024 của Bảo hiểm xã hội thành phố Thủ Đức thì bà Đào Ngọc Út L (sinh ngày 16/11/1973, mã số BHXH 7913141815, số CMND xxxxxxxxx) có quá trình tham gia bảo hiểm xã hội (viết tắt là BHXH), bảo hiểm y tế (viết tắt là BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (viết tắt là BHTN), bảo hiểm tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp (viết tắt là BHTNLĐ-BNN) tại Công ty G từ tháng 5/2013 đến tháng 12/2017. Sổ của bà L tại Công ty G đã được chốt ngày 22/01/2018.

Căn cứ Văn bản số 359/BHXH ngày 24/5/2024 của Bảo hiểm xã hội huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang thì bà Đào Ngọc Út L, sinh ngày 16/11/1973, căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, số sổ BHXH 9311005109 là người trực tiếp làm việc và tham gia đóng BHXH tại Công ty Q từ tháng 7/2011 đến tháng 5/2021. Sổ của bà L tại Công ty Q đã được chốt vào ngày 14/6/2021.

Như vậy, trong cùng khoảng thời gian từ tháng 5/2013 đến tháng 12/2017 thì thông tin bà L cùng lúc làm việc tại Công ty G và Công ty Q. Điều này hoàn toàn phù hợp với lời trình bày của các đương sự về việc bà Đ đã mượn chứng minh nhân dân của bà L để làm việc tại Công ty G.

Khoản 1 Điều 49 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định: Hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ trong trường hợp sau đây: ... Người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này...

Khoản 1 Điều 15 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định: Nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động: Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực ...

Bà Đ sử dụng chứng minh nhân dân của bà L giao kết hợp đồng lao động với Công ty G đã vi phạm nguyên tắc trung thực khi giao kết hợp đồng lao động.

Vì vậy, bà L yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động được ký kết giữa bà L (do bà Đ ký) và Công ty G trong khoảng thời gian từ tháng 5/2013 đến tháng 12/2017 vô hiệu là có căn cứ và phù hợp quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà L là có cơ sở.

Bà L, Công ty G, bà Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng lao động vô hiệu nên ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự.

Về lệ phí sơ thẩm: Bà L chịu lệ phí theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 33, khoản 2 Điều 35 và điểm v khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 361, Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 401 và Điều 402 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 15, khoản 1 Điều 49 Bộ luật Lao động năm 2019;

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014;

- Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;

- Căn cứ Điều 35, Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của người yêu cầu bà Đào Ngọc Út L.

Tuyên bố hợp đồng lao động được ký kết giữa bà Đào Ngọc Út L (do bà Đào Ngọc Đ ký) và Công ty Trách nhiệm hữu hạn G trong khoảng thời gian từ tháng 5/2013 đến tháng 12/2017 là vô hiệu.

2. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Đào Ngọc Út L, Công ty Trách nhiệm hữu hạn G, bà Đào Ngọc Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng lao động vô hiệu.

3. Về lệ phí sơ thẩm: Bà Đào Ngọc Út L chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0000653 ngày 14/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Đào Ngọc Út L đã nộp đủ lệ phí.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Bà Đào Ngọc Út L, Công ty Trách nhiệm hữu hạn G, bà Đào Ngọc Đ có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

5. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ