vanban.org

Bản án 268/2017/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 29/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T 10 (mƣời) tháng cải tạo không giam giữ, đƣợc khấu trừ thời hạn tạm giam 02 (hai) tháng 01 (một) ngày, tính từ ngày 19/6/2017 đến ngày 18/8/2017, tƣơng đƣơng 06 (sáu) tháng 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải tiếp tục chấp hành 03 (ba) tháng 27 (hai mƣơi b… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 31 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 268/2017/HS-ST
Ngày: 29-9-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Minh Châu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Phú Tâm.

2. Ông Nguyễn Văn Hoàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Đình Đông Quân, là Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 268/2017/HSST ngày 30 tháng 8 năm 2017 theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 276/2017/HSST-QĐ ngày 18 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo:

Nguyễn Anh T, sinh năm 1993 tại tỉnh H; thƣờng trú: 184 đƣờng L, khu phố 5, phƣờng B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; con ông Nguyễn Anh T, sinh năm 1971 và bà Phạm Thị Thu H, sinh năm 1972; bị cáo có 02 em ruột lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 1998; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 19/6/2017, đƣợc thay đổi biện pháp ngăn chặn tạm giam bằng quyết định hủy bỏ biện pháp tạm giam và lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú ngày 18/8/2017; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Nguyên đơn dân sự: Công ty cổ phần vận tải đƣờng sắt S.

Trụ sở: 136 Hàm Nghi, phƣờng B, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngƣời đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự: Ông Phạm Huy B, sinh năm 1979; địa chỉ: B18, ấp Đ, xã P, thành phố H, tỉnh Đồng Nai, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Công ty TNHH thƣơng mại và dịch vụ vận tải Đ.

Trụ sở: số 44 ngõ 785 đƣờng Đ, phƣờng T, quận H, Thành phố Hà Nội.

Ngƣời đại diện hợp pháp của ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Ngọc A, sinh năm 1954; địa chỉ: số 6 Trần Thiện C, Phƣờng N, Quận K, Thành phố Hồ Chí Minh, địa chỉ liên lạc: 243/1/22E Tô Hiến T, Phƣờng N, Quận K, Thành phố Hồ Chí Minh, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Người có làm chứng:

1/ Ông Đỗ Ngọc X, sinh năm 1956.

Thƣờng trú: 12A/32 khu phố B, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

2/ Ông Bùi Văn D, sinh năm 1960.

Thƣờng trú: 30B khu phố B, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Nguyễn Anh T là tài xế thử việc của Công ty TNHH thƣơng mại và dịch vụ vận tải Đ. Khoảng 16 giờ ngày 19/6/2017 T đƣợc Công ty Đ phân công điều khiển xe ô tô tải biển số 29C-240.25 đến Công ty dệt TNHH L trong khu công nghiệp S, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng nhận hàng và chở đến Ga Sóng Thần thuộc chi nhánh Công ty cổ phần vận tải đƣờng sắt S, tại khu phố B, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng để giao hàn chuyển đi. T điều khiển xe ô tô tải biển số 29C-240.25 đến nhà Đặng Quốc B, tại số 88 đƣờng 19, tổ 10A, khu phố 5, phƣờng B, quận T, thành phố Hồ Chí Minh, T nói B đi bốc hàng phụ T, B đồng ý. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày sau khi lấy hàng và giao hàng xong T rủ B đến khu xƣởng sửa chữa toa xe lửa nằm trong Ga Sóng Thần để lấy trộm các guốc hãm xe lửa B đồng ý. T điều khiển xe ô tô tải biển số 29C-240.25 chở B đến phân xƣởng toa xe Dĩ An tại đƣờng số 56 trong Ga Sóng Thần, T dừng xe sát tƣờng rào lƣới B40. B đứng cảnh giới, T luồn tay qua lỗ hổng hàng rào lấy 20 guốc hãm xe lửa mang ra ngoài. T bỏ vào thùng xe 12 guốc hãm, 06 guốc hãm bỏ vào ca bin xe, B cầm 02 guốc hãm bỏ vào ca bin xe. Lúc này ông Đỗ Ngọc X là bảo vệ phân xƣởng toa xe đi tuần tra phát hiện, T điều khiển xe chở B vào bãi đậu xe gần cổng Ga Sóng Thần. B xuống xe bỏ đi đâu không rõ, T ngồi lại trên xe thì bị ông X cùng lực lƣợng bảo vệ của Ga Sóng Thần bắt giữ giao T cùng tang vật cho Công an phƣờng An Bình lập hồ sơ chuyển giao cho cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An xử lý.

Theo kết luận định giá số 130/BB.ĐG ngày 27/6/2017 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An kết luận: Tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án là 20 guốc hãm xe lửa (toa xe hàng) có giá 3.931.420 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, nguyên đơn dân sự không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá số 130/BB.ĐG ngày 27/6/2017 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An nêu trên.

Tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án: 20 guốc hãm xe lửa (toa xe hàng), hiện đã đƣợc thu hồi trả lại cho nguyên đơn dân sự Công ty cổ phần vận tải đƣờng sắt S và nguyên đơn dân sự không yêu cầu gì khác.

Đối với xe ô tô tải biển số 29C-240.25 thuộc sở hữu của Công ty TNHH thƣơng mại và dịch vụ vận tải Đ. Công ty Đ giao cho bị cáo sử dụng để thực hiện nhiệm vụ đƣợc giao, không biết bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho Công ty TNHH thƣơng mại và dịch vụ vận tải Đ.

Đối với đối tƣợng tên Đặng Quốc B quá trình điều tra, B không có mặt tại địa phƣơng nên cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã Dĩ An tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.

Tại cáo trạng số 259/QĐ - KSĐT ngày 28 tháng 8 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Nguyễn Anh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g, h, p khoản 1, Điều 46; khoản 1, 2 Điều 31 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T mức án từ 07 đến 10 tháng cải tạo không giam giữ.

Tại phiên tòa, bị cáo xin đƣợc Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng; nguyên đơn dân sự, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và những ngƣời làm chứng cũng không khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo Nguyễn Anh T đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt là 20 guốc hãm xe lửa (toa xe hàng) có giá trị là 3.931.420 đồng của nguyên đơn dân sự Công ty cổ phần vận tải đƣờng sắt S. Theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự thì “Ngƣời nào trộm cắp tài sản của ngƣời khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dƣới năm mƣơi triệu đồng hoặc dƣới hai triệu đồng nhƣng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chƣa đƣợc xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”. Nhƣ vậy, hành vi trên đây của bị cáo chiếm đoạt tài sản của nguyên đơn dân sự có trị giá 3.931.420 đồng đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản. Cáo trạng số 259/QĐ - KSĐT ngày 28 tháng 8 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhƣng đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của nguyên đơn dân sự, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Bị cáo là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của nguyên đơn dân sự là vi phạm pháp luật, nhƣng vì tham lam tƣ lợi mong muốn có tiền để tiêu xài nên đã cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đƣợc xem xét khi quyết định hình phạt: Tại cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng; tài sản chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho nguyên đơn dân sự. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm g, h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử sẽ xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với ngƣời phạm tội.

Về nhân thân: Bị cáo là ngƣời lao động chƣa có tiền án, tiền sự.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt là 20 guốc hãm xe lửa (toa xe hàng) hiện đã thu hồi và giao trả lại cho nguyên đơn dân sự Công ty cổ phần vận tải đƣờng sắt S, hiện nguyên đơn dân sự không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với xe ô tô tải biển số 29C-240.25 thuộc sở hữu của Công ty TNHH thƣơng mại và dịch vụ vận tải Đ. Công ty Đ giao cho bị cáo sử dụng để thực hiện nhiệm vụ đƣợc giao, không biết bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An trả lại cho Công ty TNHH thƣơng mại và dịch vụ vận tải Đ là đúng theo quy định của pháp luật.

Đối với đối tƣợng tên Đặng Quốc B quá trình điều tra, B không có mặt tại địa phƣơng nên cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã Dĩ An tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau.

Xét bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong thời gian bị cáo đƣợc tại ngoại luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nƣớc và địa phƣơng. Vì vậy, việc áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ để răn đe, giáo dục cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung trong xã hội. Bị cáo T là lao động làm thuê thu nhập không ổn định nên không nhất thiết phải áp dụng quy định khấu trừ một phần thu nhập khi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo theo khoản 3 Điều 31 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội Trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g, h, p khoản 1 Điều 46; khoản 1, khoản 2 Điều 31 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T 10 (mƣời) tháng cải tạo không giam giữ, đƣợc khấu trừ thời hạn tạm giam 02 (hai) tháng 01 (một) ngày, tính từ ngày 19/6/2017 đến ngày 18/8/2017, tƣơng đƣơng 06 (sáu) tháng 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải tiếp tục chấp hành 03 (ba) tháng 27 (hai mƣơi bảy) ngày cải tạo không giam giữ.

Giao bị cáo Nguyễn Anh T cho Ủy ban nhân dân phƣờng Bình Chiểu, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân phƣờng Bình Chiểu, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh nhận đƣợc Quyết định thi hành án và bản án.

2. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; điểm a, khoản 1 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Anh T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn dân sự và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ