vanban.org

Bản án 265/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

- Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang Tuấn K phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang Tuấn K 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 04 (bốn) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quang Tuấn Kiệt +ĐP - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? - Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
  • Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 – ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 265/2025/HS-ST
Ngày 27-10-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Chi

2. Bà Thiều Thị Phi Loan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Diệu Linh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Lý – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 10 năm 2025, tại Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án hình sự thụ lý số: 253/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 272/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Quang Tuấn K, sinh năm 2000 tại Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú: Ấp F, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai); nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quốc T và bà Tạ Thị T1; bị cáo chung sống như vợ chồng với chị Cao Thị Phương T2 và có 01 con sinh năm 2021; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt giam, giữ từ ngày 16/12/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực V – Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Đ; có mặt tại phiên tòa.

2. Lê Thị Hồng G, sinh năm 1997 tại Đồng Nai; nơi thường trú: Ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai); nơi ở: Ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai); nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Đ và bà Trần Thị Phương D (đã chết); bị cáo có chồng là anh Nguyễn Công T3 (đã ly hôn) và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2018 và con nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt giam, giữ từ ngày 17/12/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực V – Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Đ; có mặt tại phiên tòa.

3. Lê Minh L, sinh năm 2000 tại Đồng Nai; nơi cư trú: Khu phố C, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai); nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Minh T4 và bà Trần Thị H; bị cáo có vợ là Đỗ Nguyễn Gia H1 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2022; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt giam, giữ từ ngày 17/12/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu V – Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Đ; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

* Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý của Nguyễn Quang Tuấn K, Lê Minh L, Lê Thị Hồng G:

Nguyễn Quang Tuấn K, Lê Minh L, Lê Thị Hồng G là người sử dụng trái phép chất ma túy, K đã rủ và cùng L, G Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý như sau:

Lần thứ nhất:

Ngày 09/12/2024, K liên hệ qua Z cho đối tượng tên V (Không rõ lai lịch) và được V hướng dẫn đến đi đến khu vực ngã tư gần bãi rác thuộc phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai) mua của V 01 gói ma tuý tổng hợp với giá 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng). K mang gói ma tuý vừa mua được và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý (gồm 01 nắp chai nhựa có gắn ống hút, 01 nỏ thuỷ tinh và 01 chai nước) đến phòng trọ số 1 nhà trọ Lê Văn B thuộc ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai) do G thuê ở để sử dụng ma tuý. Tại phòng trọ số 1, K rủ Lê Minh L góp tiền để K, L, G sử dụng ma tuý, L đồng ý và đưa cho K 100.000đ (Một trăm nghìn đồng). Sau đó, K lấy bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đổ hết ma tuý vào nỏ thuỷ tinh rồi dùng bật lửa đốt (nấu) ma tuý hoá hơi để K, L, G cùng sử dụng. Sau khi sử dụng hết ma tuý, K cất bộ dụng cụ sử dụng ma tuý trong phòng trọ của G rồi đi về.

Lần thứ hai:

Ngày 13/12/2024, K tiếp tục đi đến khu vực ngã tư gần bãi rác địa chỉ nêu trên mua của V 01 gói ma tuý tổng hợp với giá 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng). Kiệt mang gói ma tuý vừa mua được đến phòng trọ số 1 của Gấm địa chỉ nêu trên rủ L và G sử dụng ma tuý thì L đồng ý, còn G do bận chăm sóc con bị bệnh nên từ chối không tham gia. Sau đó, K lấy bộ dụng cụ sử dụng ma tuý (của K cất tại phòng trọ của Gấm ngày 09/12/2024) đổ ma tuý vào nỏ rồi dùng bật lửa đốt (nấu) ma tuý để K và L sử dụng. Gấm biết K và L sử dụng ma tuý tại phòng trọ do Gấm quản lý nhưng vẫn đồng ý. Sau khi sử dụng xong ma tuý, K cất bộ dụng cụ sử dụng ma tuý trong phòng trọ của G rồi đi về.

* Hành vi Mua bán trái phép chất ma tuý của Nguyễn Quang Tuấn K:

Khoảng 20 giờ ngày 16/12/2024, K nảy sinh ý định mua bán trái phép chất ma tuý nên gọi qua mang xã hội Zalo cho V hỏi mua 03 gói ma tuý tổng hợp với giá 1.700.000đ (Một triệu bảy trăm nghìn đồng), V đồng ý và hướng dẫn đến khu vực ngã tư gần bãi rác địa chỉ nêu trên để bán ma tuý. Sau đó, K đi đến điểm hẹn nêu trên mua của 01 nam thanh niên (không rõ lai lịch đi bán ma tuý cho V) 03 gói ma tuý tổng hợp với giá 1.700.000đ (Một triệu bảy trăm nghìn đồng). Sau đó, K mang 03 gói ma tuý vừa mua được đến phòng trọ số 1 của Gấm địa chỉ nêu trên.

Đến khoảng 23 giờ 25 phút cùng ngày, khi K đang ở phòng trọ số 1 cùng với L1 và Gấm thì Công an kiểm tra hành chính nhà trọ. Thấy lực lượng Công an, K cất giấu 03 gói ma tuý vào trong máy giặt trong phòng trọ của G thì bị Công an xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai phát hiện bắt quả tang cùng tang vật, lập hồ sơ Chuyển cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện V (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ) xử lý.

Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Quang Tuấn K, Lê Minh L, Lê Thị Hồng G đã khai nhận hành vi phạm tội như trên

- Vật chứng thu giữ:

- 01 túi Zip bên trong chứa 03 túi nilon chứa tinh thể màu trắng (Ký hiệu M1); 02 túi Zip bên trong bám dính tinh thể màu trắng (Ký hiệu M2); 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm 01 nắp nhựa màu đỏ khoét 02 lỗ, 01 lỗ gắn với nỏ thuỷ tinh, 01 lỗ gắn với ống hút nhựa màu đen (Ký hiệu M3) đã được niêm phong có chữ ký của Nguyễn Quang Tuấn K và dấu mộc của Công an xã T.

- 01 điện thoại di động hiệu S Galaxy A11 của Nguyễn Quang Tuấn K dùng để liên lạc mua ma tuý.

Tại kết luận giám định số 2623/KL-KTHS ngày 25/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận:

- Mẫu tinh thể màu trắng (M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 4,2179 gam, loại methamphetamine.

- Mẫu chất màu trắng bám dính trong gói nylon (M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại methamphetamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng.

- Mẫu bộ dụng cụ sử dụng ma tuý (M3) được niêm phong gửi đến giám định có tìm thấy ma túy, loại methamphetamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng.

Tại Cáo trạng số: 227/VKSKV1-ĐN ngày 30/9/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai đã truy tố các bị cáo: Nguyễn Quang Tuấn K về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 và khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Lê Thị Hồng G về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Lê Minh L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

+ Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255 và điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T5 Kiệt mức án từ 08 (tám) năm đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 251 và điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T5 Kiệt mức án từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

+ Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255 và điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Lê Thị Hồng G mức án từ từ 8 (tám) năm đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255 và điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Lê Minh L mức án từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

+ Xử lý vật chứng theo quy định.

- Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về hành vi bị truy tố và tội danh:

Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố; lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản hỏi cung bị can, biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào ngày 09/12/2024, tại phòng trọ số A, nhà trọ L2, thuộc ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai) do Lê Thị Hồng G thuê ở, Nguyễn Quang Tuấn K, Lê Thị Hồng G, Lê Minh L có hành vi tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma tuý.

Vào ngày 13/12/2024, tại phòng trọ số 1 do Gấm thuê ở địa chỉ nêu trên, Nguyễn Quang Tuấn K, Lê Thị Hồng G có hành vi tổ chức cho K và Lê Minh L sử dụng trái phép chất ma tuý.

Khoảng 23 giờ 25 phút 16/12/2025, tại phòng trọ số 1 địa chỉ nêu trên, Công an xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai) phát hiện bắt quả tang thu giữ của Nguyễn Quang Tuấn K 4,2179 gam ma tuý, loại methamphetamine cất giấu với mục đích bán cho người nghiện.

Như vậy, bản Cáo trạng số 227/VKSKV1-ĐN ngày 30/9/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Nguyễn Quang Tuấn K về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; các bị cáo Lê Minh L và Lê Thị Hồng G về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo các điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:

- Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và lỗi: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy. Ma túy là chất gây nghiện, hủy hoại sức khỏe, nhân cách của trực tiếp sử dụng, là nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.

- Về tính chất đồng phạm: Trong vụ án này các bị cáo Nguyễn Quang Tuấn K, Lê Minh L và Lê Thị Hồng G cùng thực hiện hành vi phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” không có sự phân công vai trò chặt chẽ nên được xem là đồng phạm giản đơn.

- Về vai trò của từng bị cáo:

Nguyễn Quang Tuấn K 02 lần rủ rê, cung cấp ma tuý, dụng cụ tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và 01 lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma tuý.

Lê Thị Hồng G 02 lần cung cấp địa điểm tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.

Lê Minh L 01 lần góp tiền mua ma túy tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa có tiền án, tiền sự nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, vai trò, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo để đảm bảo sự nghiêm minh, khoan hồng của pháp luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.

Đối với 01 nam thanh niên (chưa rõ nhân thân lai lịch) và đối tượng tên V (chưa rõ lai lịch) và có hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”. Nguyễn Quang Tuấn K khai V sử dụng số điện thoại 0927.733.676 để liên lạc bán ma tuý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ) có công văn đề nghị Tập đoàn B1 cung cấp thông tin chủ thuê bao nêu trên nhưng chưa có kết quả. Do chưa rõ lai lịch của V và nam thanh niên bán ma tuý nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ tiếp tục xác minh, xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ khối lượng ma tuý còn lại sau giám định; 01 nắp nhựa màu đỏ khoét 02 lỗ, 01 lỗ gắn với nỏ thuỷ tinh, 01 lỗ gắn với ống hút nhựa màu đen theo gói niêm phong số 2623 ngày 25/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A11 của Nguyễn Quang Tuấn K dùng để liên lạc mua ma tuý.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc các bị cáo Nguyễn Quang Tuấn K, Lê Minh L và Lê Thị Hồng G mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm;

Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai tại Tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

- Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai và các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. - Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang Tuấn K phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang Tuấn K 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 04 (bốn) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo K phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội trên 12 (mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 16 tháng 12 năm 2024;

- Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Lê Thị Hồng G 08 (tám) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 17 tháng 12 năm 2024;

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Lê Minh L 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 17 tháng 12 năm 2024;

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ khối lượng ma tuý còn lại sau giám định; 01 nắp nhựa màu đỏ khoét 02 lỗ, 01 lỗ gắn với nỏ thuỷ tinh, 01 lỗ gắn với ống hút nhựa màu đen theo gói niêm phong số 2623 ngày 25/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A11.

Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 – Đồng Nai theo Quyết định chuyển vật chứng số 1447/QĐ-VKKV1-ĐN ngày 15/8/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai và Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/8/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 – Đồng Nai.

3. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Quang Tuấn K, Lê Minh L và Lê Thị Hồng G mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm;

4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ