- Tranh chấp gì? án hình sự — "BUÔN BÁN HÀNG CẤM - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo: Nguyễn Thanh T 01 (một) năm tù về tội “Buôn bán hàng
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 264/2025/HS-ST Ngày : 15/12/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Hiếu Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Thanh Thủy
2. Ông Phạm Minh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiên – Thư ký Tòa án nhân dân khu
vực 4 – Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Thành phố Hồ Chí
Minh tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Tuyết Vân - Kiểm sát viên
Ngày 15 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 – Thành
phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 252/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 228/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh T, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1991 tại tỉnh Long An (nay
là tỉnh Tây Ninh); Căn cước công dân số: 080091012024; Nơi đăng ký thường trú: Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh); Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T1 và bà Lê Thị Kim L; Có vợ: Phạm Thanh N và 02 con: lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/01/2025. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 09/01/2025, Tổ trinh sát hình sự Công an Q đang
tuần tra trên đường phát hiện Nguyễn Thanh T đang đứng trước 01 thùng giấy có biểu hiện nghi vấn nên mời về trụ sở Công an P, Quận A để kiểm tra làm rõ. Qua kiểm tra, bên trong thùng giấy chứa 06 khối hộp có kích thước 17x17x10cm, bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc có chữ KS4-4911 (mỗi khối gồm 49 ống hình trụ có đường kính 2,2cm, cao 10cm được gắn với nhau) và 05 gói nylon chứa các viên cầu vỏ nhựa màu sắc có đường kính 2,7cm, một đầu có gắn đoạn dây màu xanh. Thật khai đây là pháo nổ Thật mua để bán kiếm lời.
Tại Kết luận định số 1648/KL-KTHS ngày 13/01/2025 của Phòng K -
Công an T2 kết luận: 06 khối hộp có kích thước 17x17x10cm, bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc có chữ KS4-4911 là pháo nổ, có tổng khối lượng 9,34kg và 05 gói nylon chứa các viên cầu vỏ nhựa màu sắc có đường kính 2,7cm, một đầu có gắn đoạn dây màu xanh là pháo nổ, có tổng khối lượng 2,38kg.
Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của T tại Ấp B, xã Đ,
huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh) thu giữ 20 viên hình tròn bằng nhựa.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thanh T khai nhận: Do cần tiền tiêu xài nên
vào tháng 12/2024, T lên mạng xã hội Facebook vào các nhóm trao đổi nội dung mua bán pháo để đăng bài bán pháo với tài khoản "MAT-THẬT", đăng ký số điện thoại 0896953428. Khi người có nhu cầu mua pháo nổ sẽ nhắn tin hoặc gọi điện thoại với T thỏa thuận giá, số lượng, loại pháo để mua, địa điểm giao pháo. Sau khi thỏa thuận, T liên hệ với A (không rõ lai lịch) sử dụng số điện thoại 0973562772, mua pháo rồi giao lại cho người đã đặt mua để kiếm lời. Mỗi bịch pháo hình trái banh T mua với giá 350.000 đồng, bán với giá 450.000 đồng, hưởng lợi 100.000 đồng; mỗi dàn pháo hoa mua với giá 770.000 đồng, bán với giá 1.000.000 đồng, hưởng lợi 230.000 đồng. Thật đã mua pháo của A được 03 lần, thanh toán bằng tiền mặt như sau:
- Ngày 07/01/2025, T liên hệ với A mua 10 bịch pháo hình trái banh với
giá 3.500.000 đồng, A giao tại bờ kênh trên đường H, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Ngày 08/01/2025, T liên hệ với A mua 10 bịch pháo hình trái banh với
giá 3.500.000 đồng, A giao tại bờ kênh trên đường H, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Đến ngày 09/01/2025, T liên hệ với A mua 15 dàn pháo bông với giá
11.550.000 đồng, A giao tại bờ kênh trên đường H, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An. Thật đã bán hết cho một người không rõ lai lịch thu lợi được số tiền 2.000.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết. Sau đó T đem 05 bịch pháo hình trái banh của ngày 08/01/2025 và 06 dàn pháo bông còn lại bỏ vào thùng đem đi bán, chưa kịp bán thì bị Công an kiểm tra bắt giữ như trên.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố T2 đã có Công văn gửi Tập
đoàn C cung cấp thông tin chủ thuê bao số điện thoại 0973562772 nhưng đến nay chưa có kết quả trả lời. Do đó, chưa có cơ sở điều tra làm rõ đối với A (là người bán pháo nổ cho Thật).
Vật chứng vụ án:
- 06 khối hình hộp có kích thước 17x17x10cm, bên ngoài được bọc giấy
nhiều màu sắc có chữ KS4-4911.
- 05 gói nylon bên trong có viên cầu vỏ nhựa màu sắc có đường kính
2,7cm, một đầu có gắn đoạn dây màu xanh.
- 20 viên hình tròn bằng nhựa dùng để làm pháo, T mua của một người ở
ngoài đường (không rõ lai lịch).
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xr và 01 điện thoại di động hiệu
Nokia - là tài sản bị can T sử dụng vào việc phạm tội.
Tại bản cáo trạng số 02/CT-VKSKV4 ngày 02 tháng 7 năm 2025, Viện
kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại cơ quan
điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Thành phố Hồ Chí Minh
công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, nêu lên tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình có truyền thống cách mạng, có bác ruột là liệt sĩ, của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo: Nguyễn Thanh T mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung.
- Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét
xử xử lý theo quy định của pháp luật.
- Ý kiến của bị cáo: Không có ý kiến tranh luận.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình,
mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành
phố T2, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:
Tại Cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận
hành vi của mình, qua lời khai nhận của bị cáo, đối chiếu với vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để kết luận: Vào lúc 16 giờ 00 phút ngày 09/01/2025, bị cáo Nguyễn Thanh T có hành vi cất giữ tổng cộng 11,72 kg pháo nổ nhằm mục đích kiếm lời thì bị Cơ quan công an kiểm tra bắt quả tang.
Vì vậy, bị cáo Nguyễn Thanh T bị truy tố và xét xử về tội “Buôn bán hàng
cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đối với những lần mua bán pháo trước đây giữa bị cáo và đối tượng
tên A, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch của A, không thu giữ được pháo, không xác định được trong lượng nên không có căn cứ xử lý bị cáo về các lần mua bán trước với A là có cơ sở.
Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến
các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế, ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm. Bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức được hành vi buôn bán hàng cấm bị pháp luật ngăn cấm và bị trừng trị nhưng do tư lợi cá nhân nên bị cáo đã cố tình thực hiện tội phạm một cách liều lĩnh, bất chấp sự trừng trị của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm mục đích cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã
thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình có truyền thống cách mạng, có bác ruột là liệt sĩ. Do vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo khai thu lợi bất chính số tiền 2.000.000
đồng nên cần buộc bị cáo nộp lại để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Về vật chứng vụ án:
- 06 khối hình hộp có kích thước 17x17x10cm, bên ngoài được bọc giấy
nhiều màu sắc có chữ KS4-4911 và 05 gói nylon bên trong có viên cầu vỏ nhựa màu sắc có đường kính 2,7cm, một đầu có gắn đoạn dây màu xanh là những vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu và tiêu hủy.
- 20 viên hình tròn bằng nhựa dùng để làm pháo thu giữ của bị cáo, xét
thấy đây là những vật không có giá trị nên tịch thu và tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xr và 01 điện thoại di động hiệu
Nokia thu giữ của bị cáo, xét thấy bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và
Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo: Nguyễn Thanh T 01 (một) năm tù về tội “Buôn bán hàng
cấm”. Thời hạn tù tính từ ngày 09 tháng 01 năm 2025.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
2. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ
sung năm 2017.
Buộc bị cáo nộp lại số tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng để tịch thu nộp ngân
sách Nhà nước.
3. Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xr,
số imei: 357376090467419 và 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số imei: 353747946890430.
- Giao Cơ quan thi hành dân sự phối hợp Cơ quan có thẩm quyền tịch thu
và tiêu hủy: 06 khối hình hộp có kích thước 17x17x10cm, bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc có chữ KS4-4911 và 05 gói nylon bên trong có viên cầu vỏ nhựa màu sắc có đường kính 2,7cm, một đầu có gắn đoạn dây màu xanh và 20 viên hình tròn bằng nhựa dùng để làm pháo.
(Tình trạng vật chứng theo như Quyết định chuyển vật chứng số 98/QĐ-
VKS ngày 01/7/2025 của Viện kiểm sát Khu vực 4 – Thành phố Hồ Chí Minh và Biên bản bàn giao vật chứng ngày 29 tháng 8 năm 2025 của Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 4 – Thành phố Hồ Chí Minh).
4. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn)
đồng.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm
trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Cơ quan CSĐTCATP.HCM (PC03); - VKSND KV4-TP. Hồ Chí Minh; - Phòng THADS KV4-TP. Hồ Chí Minh; - TAND, VKSND TP. Hồ Chí Minh; - Phòng HSNV CA TP. HCM; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Hiếu Hạnh |