- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn V và đồng phạm phạm tội Tổ chức đánh bạc, Đánh bạc, Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng - tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Lu…"
- Tòa quyết gì? I. Căn cứ khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 322 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 261/2026/HS-PT Ngày: 12/8/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hữu Thị Hảo Hảo
Các Thẩm phán:Bà Võ Thị Minh Phượng
Bà Trần Thị Bé
- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Công Trí - Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 136/2026/TLPT-HS ngày 05 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo Dương Hồ Vũ E và đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo: Dương Hồ Vũ E, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Quốc C, Nguyễn Trọng T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2026/HS-ST ngày 26 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Đà Nẵng.
Các bị cáo có kháng cáo:
1. Dương Hồ Vũ E sinh ngày 01/01/1990, tại tỉnh Trà Vinh (nay là tỉnh Vĩnh Long); nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: 343 Ấp C, khu phố D, phường B, thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: nam; nghề nghiệp: không; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Phật giáo; trình độ học vấn: 12/12; con ông Dương Văn M, sinh năm 1967 và bà Thạch Thị N, sinh năm 1964; vợ là Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1992 và 02 con (con lớn nhất sinh năm 2016; con nhỏ nhất sinh năm 2020); tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, chuyển sang tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/9/2024 đến ngày 27/12/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”. Hiện bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên toà.
2. Nguyễn Văn Q, sinh ngày 08/8/1985, tại tỉnh Tiền Giang (nay là tỉnh Đồng Tháp); nơi đăng ký thường trú: Ấp V, xã V, tỉnh Đồng Tháp; chỗ ở hiện nay: Số F đường H, phường B, thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: nam; nghề nghiệp: buôn bán phế liệu; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1954 và bà Phạm Thị C1, sinh năm 1959; gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba; vợ là Trần Thị Phương T1 nhưng đã ly hôn và có 01 con, sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt trong trường hợp khẩn cấp chuyển sang tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/9/2024 đến nay. Có mặt tại phiên toà.
3. Nguyễn Quốc C; sinh ngày 01/9/1979, tại tỉnh Quảng Nam (nay là thành phố Đà Nẵng); nơi đăng ký thường trú: thôn T, xã P, thành phố Đà Nẵng; chỗ ở hiện nay: Số I, đường số A, khu phố B, phường B, thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: nam; nghề nghiệp: Thợ may; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 06/12; con ông Nguyễn B, sinh năm 1956 và bà Trần Thị S, sinh năm 1958; gia đình có 08 anh chị em, bị cáo là con đầu; vợ là Nguyễn Thị H1, sinh năm 1978 và 02 con (con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2011); tiền án, tiền sự: không
Bị cáo bị bắt trong trường hợp khẩn cấp chuyển sang tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/9/2024 đến ngày 19/5/2025 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”. Hiện bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên toà.
4. Nguyễn Trọng T, sinh ngày 21/5/1987, CCCD số: 086087008397; tại tỉnh Vĩnh Long; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Ấp B (nay là ấp B), xã T, tỉnh Vĩnh Long; giới tính: nam; nghề nghiệp: Lái xe; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Công giáo; trình độ học vấn: 10/12; con ông Nguyễn Trọng C2, sinh năm 1974 và bà Trương Thị H2, sinh năm 1968; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ là Lâm Út D, sinh năm 1990 và 02 con (con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2019); tiền án, tiền sự: không
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/9/2024 đến ngày 22/01/2025 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”. Hiện bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên toà.
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Lê Minh P, sinh năm 1977; địa chỉ: số G đường N, phường T, thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
2. Bà Phạm Thị H3, sinh năm 1997; địa chỉ: Số A đường số D, phường B, thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
* Trong vụ án này còn có bị cáo Phạm Văn V, Nguyễn Văn L1 nhưng các bị cáo không kháng cáo và không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 07/9/2024, tại xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam nay là xã G, thành phố Đà Nẵng, Phòng C4 Công an tỉnh Q phối hợp Công an xã Đ, thị xã Đ phát hiện, lập biên bản sự việc đối với Phạm Văn V có liên quan đến hành vi “tổ chức đánh bạc” thắng thua bằng tiền dưới hình thức cá độ bóng đá qua mạng internet thông qua 02 tài khoản cá độ ký hiệu “UTPSZ2” và “GJD20F” và các tài khoản có liên quan.
Tạm giữ của Phạm Văn V: 01 ĐTDĐ OPPO, số Imei: 864647056697991 bên trong gắn sim số 0921957689, 0932955813; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 13 màu đỏ, số I: 359786904238954 bên trong gắn sim số 0921467789; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 15promax, số I: 354009447833797 bên trong gắn sim số 0903316678; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Nokia;
Trên cơ sở lời khai của Phạm Văn V và tài liệu thu thập được, tổ công tác tiến hành trích xuất dữ liệu các tài khoản “UTPSZ2”, “GJD20F” và các tài khoản có liên quan, Lúc 15 giờ 10 phút, cùng ngày Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q (cũ) tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Văn V tại thôn H, xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam (cũ), phát hiện, tạm giữ của V: 01 laptop nhãn hiệu Dell; 01 khẩu súng, 05 viên đạn bằng kim loại.
Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q (cũ) nay là thành phố Đà Nẵng xác định từ khoảng tháng 7/2024 đến tháng 9/2024, trên địa bàn tỉnh Quảng Nam (cũ) và thành phồ H4, Dương Hồ Vũ E, Phạm Văn V, Nguyễn Văn Q đã tổ chức đánh bạc ăn thua bằng tiền dưới hình thức cá độ bóng đá qua mạng internet cho nhiều người, trong đó xác định được các đối tượng tham gia đánh bạc với nhóm của Phạm Văn V như: Nguyễn Trọng T, Nguyễn Văn L1, Nguyễn Quốc C, Lê Minh P.
- Tang vật thu giữ của:
+ Nguyễn Quốc C: 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 7plus số seri: F2PSTP6XHFYD gắn sim số 0931876276;
+ Dương Hồ Vũ E: 01 ĐTDĐ Iphone 13promax, số I: 353510600650163 gắn sim thuê bao số 0908150790;
+ Nguyễn Văn Q: 01 ĐTDĐ Iphone 11pro, số I: 353237101785237 gắn sim thuê bao số 0943947275 và số tiền 12.000.000 đồng.
Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q (cũ) nay là thành phố Đà Nẵng xác định hành vi phạm tội của các bị cáo cụ thể như sau:
1. Hành vi tổ chức đánh bạc liên quan đến tài khoản cá độ bóng đá “UTPSZ2”:
Khoảng tháng 7/2024 thông qua mạng xã hội viber, Dương Hồ Vũ E liên hệ một người tên thường gọi là “Ku Em” (không rõ lai lịch), có tài khoản viber “Bạn T Mập” (có số điện thoại đăng ký là 0918309138 và sử dụng số tài khoản ngân hàng A1) lấy tài khoản cá cược ký hiệu “UTPSZ2” (master) của trang mạng tên SBOBET, hạng mức 100.000USD, quy ước 01 USD = 9.000 đồng, tương đương 900.000.000 đồng để tổ chức đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức cá độ bóng đá qua mạng. Sau đó, Vũ E giao lại cho anh Phạm Văn V để tổ chức cá độ bóng đá, với quy ước 01 USD = 12.000 đồng, tức là Vũ E trực tiếp thắng thua tiền cá cược trong tài khoản với Vĩnh 03USD (tức là 18.000 đồng) và nhà trên 09 USD. Do V không rành tạo tài khoản cho người chơi cá cược, nên Vũ E vẫn quản trị tài khoản, giúp Vĩnh tạo tài khoản cho người chơi rồi nhắn tin qua tài khoản V1 để V giao cho người chơi. Hằng tuần Vũ E1 tính tiền thắng thua giúp cho V với người chơi để V chung tiền thắng thua cho Dương Hồ Vũ E và người chơi, sau đó, Vũ E chung tiền thắng thua cho nhà cái trên và thu lợi số tiền thắng theo 03 đô đã thoả thuận. Đối với tài khoản này, Vũ E giúp V quản trị, chia nhỏ tài khoản trên thành 03 tài khoản khác (agent) gồm: UTPSZ2AG, UTPSZ2AB, UTPSZ2AE.
Phạm Văn V trực tiếp quản lý nhờ Vũ E chia tiếp 02 tài khoản UTPSZ2AB, UTPSZ2AE thành các tài khoản member với các hạn mức khác nhau để V giao cho người chơi cá độ trực tiếp sử dụng và quy ước 01 USD = 15.000 đồng đến 50.000 đồng để người chơi cá đặt cược cá độ bóng đá. Đối với tài khoản UTPSZ2AG thì Vũ E trực tiếp quản lý, sử dụng chia nhỏ thành các tài khoản member với các hạn mức khác nhau để giao cho người chơi và quy ước 01 USD = 12.000 đồng.
Ngoài ra, khi tổ chức đánh bạc thì người cung cấp tài khoản, V, Vũ E và những người chơi còn thỏa thuận trả thêm tiền hoa hồng bằng 05 lần tiền hoa hồng gốc (thể hiện trong tài khoản cá độ) để sử dụng đặt cược cá độ. Nên số tiền thu lợi bất chính của các đối tượng tổ chức và người chơi cá độ sẽ được tính thêm số tiền hoa hồng này với số USD quy ước.
Căn cứ tài liệu thu thập được, dữ liệu điện tử đã trích xuất, xác định trong thời gian từ ngày 01/8/2024 đến ngày 06/9/2024, xác định các bị can tổ chức đánh bạc, đánh bạc như sau:
a. Tài khoản UTPSZ2AE (agent) được chia thành 06 tài khoản (member) gồm: UTPSZ2AE001,
UTPSZ2AE002,
UTPSZ2AE003,
UTPSZ2AE004, UTPSZ2AE005, UTPSZ2AE006.
Phạm Văn V giao UTPSZ2AE002 (hạn mức 1. 000 USD; quy ước 01 USD = 35.000 đồng), UTPSZ2AE003 (hạn mức 1.000 USD; quy ước 01 USD = 50.000 đồng) cho Nguyễn Văn Q để giao lại cho người chơi sử dụng trực tiếp để cá cược. Ngoài ra, V cho Q chung 5.000 đồng/01 USD để tham gia chung tiền để tổ chức cá độ và Q hưởng tiền hoa hồng là 0,5 lần tiền hoa hồng gốc trên tài khoản cá độ Vĩnh trích lại cho người chơi ( người chơi được hưởng tiền hoa hồng 4,5 lần hoa hồng gốc). V giao cho một người chơi (không rõ lai lịch) các tài khoản UTPSZ2AE001, UTPSZ2AE004 và UTPSZ2AE005, UTPSZ2AE006 để sử dụng đặt cược cá độ và quy ước 01 USD – 15.000 đồng.
Căn cứ tài liệu mạng thu được, xác định:
- Tài khoản UTPSZ2AE002 (hạn mức 1. 000 USD; quy ước 01 USD = 35.000 đồng), Q giao lại cho T2 (không rõ lai lịch) để sử dụng đặt cược cá độ. Từ 02/8/2024 đến ngày 06/9/2024, T2 cược 72 lượt, tổng tiền cược 2.408 USD x 35.000 đồng = 84.280.000 đồng; tổng số tiền thắng cược 1107,28 USD x 35.000 đồng = 38.754.000 đồng và có nhiều lượt thua. Tổng số tiền thu lợi bất chính 9.581.950 đồng (273,77 USD x 35.000 đồng) và tiền hoa hồng người chơi được hưởng 767.025 đồng (4,87 USD x 4,5 lần x 35.000 đồng). Tổng số tiền T2 dùng để đánh bạc là 123.034.800 đồng, thu lợi bất chính 10.348.975 đồng. Dương Hồ Vũ E, Phạm Văn V, Nguyễn Văn Q cùng sử dụng tài khoản UTPSZ2AE002 tổ chức đánh bạc với số tiền 123.034.800 đồng. Kết quả: Nguyễn Văn Q thua 273,77 USD x 5.000 đồng = 1,368.850 đồng, tiền hoa hồng được hưởng 4,87 USD x 0,5 lần x 35.000 đồng = 85.225 đồng. Q phải trả cho T2 1.283.625 đồng. Phạm Văn V thua 273,77 USD x 18.000 đồng = 4.927.860 đồng, tiền hoa hồng trích lại cho người chơi 4,87 USD x 5 lần x 23.000 đồng – 560.050 đồng. V phải trả lại cho T2 5.487.910 đồng. Dương Hồ Vũ E thua 273,77 USD x 3.000 đồng = 821.310 đồng, tiền hoa hồng trích lại cho người chơi 4,87 USD x 5 lần x 3.000 đồng = 73,050 đồng. Vũ E phải chi trả cho T2 894.360 đồng.
- Tài khoản UTPSZ2AE003 (hạn mức 1.000 USD; quy ước 01 USD = 50.000 đồng), Q giao cho Lê Minh P. Từ ngày 01/8/2024 đến ngày 03/9/2024, P cược 516 lượt, tổng số tiền cược 2.641 USD x 50.000 đồng = 132.050.000 đồng; tổng số tiền thắng cược 1063,1 USD x 50.000 đồng = 53.155.000 đồng, có nhiều lượt thua. Số tiền thu lợi bất chính 666.500 đồng (13,33 USD x 50.000 đồng) và tiền hoa hồng được hưởng 1.273.500 đồng (5,66 USD x 4,5 lần x 50.000 đồng). Tất cả các lần đánh bạc đều có số tiền dùng đánh bạc dưới 5.000.000 đồng. Tổng số tiền Phương dùng để đánh bạc là 185.205.000 đồng, thu lợi bất chính 1.940.000 đồng. Dương Hồ Vũ E, Phạm Văn V, Nguyễn Văn Q cùng sử dụng tài khoản UTPSZ2AE003 tổ chức đánh bạc với số tiền 185.205.000 đồng. Kết quả: Nguyễn Văn Q thua 66,650 đồng (13,33 USD x 5.000 đồng); số tiền hoa hồng Q được hưởng 141.500 đồng (5,66 x 0,5 lần x 50.000 đồng). Do đó Q được hưởng số tiền 74.850 đồng. Phạm Văn V thua 439,890 đồng (13,33 USD x 33.000 đồng); số tiền hoa hồng V chi trả cho P 1.075.400 đồng (5,66 USD x 5 lần x 38.000 đồng). V phải trả cho P 1.515.290 đồng. Dương Hồ Vũ E thua 39.900 đồng (13,33 USD x 3.000 đồng); tiền hoa hồng trích lại 84.900 đồng (5,66 USD x 5 lần x 3.000 đồng). Vũ Em trả cho P 124.890 đồng.
- Các tài khoản: UTPSZ2AE001, UTPSZ2AE004, UTPSZ2AE005, UTPSZ2AE006: Vĩnh giao cho người chơi (không rõ lai lịch) sử dụng để cá cược, quy ước 01 USD = 15.000 đồng. Căn cứ tài liệu mạng thu được, xác định: Người chơi với 740 lượt, tổng số tiền cược 18.367 USD x 15.000 đồng = 275.505.000 đồng; tổng số tiền thắng cược 7299,23 USD x 15.000 đồng = 109.488.400 đồng, có nhiều lượt thua. Số tiền thu lợi bât chính 12.385.350 đồng (825,69 USD x 15.000 đồng) và tiền hoa hồng được hưởng 3.038.250 đồng (40.51 USD x 5 lần x 15.000 đồng). Tổng số tiền người dùng để đánh bạc là 384.993.400 đồng, kết quả người chơi thua 9.347.100 đồng. Dương Hồ Vũ E, Phạm Văn V, Nguyễn Văn Q cùng sử dụng các tài khoản trên tổ chức đánh bạc với số tiền 384.993.400 đồng. Kết quả: Phạm Văn V và Dương Hồ Vũ E mỗi người thắng 2.477.070 đồng (825,69 USD x 3.000 đồng); số tiền hoa hồng Vĩnh chi trả 607.650 đồng (202.55 USD x 3.000 đồng). V và Vũ E mỗi người thu lợi 1.869.420 đồng. Như vậy, Dương Hồ Vũ E, Phạm Văn V sử dụng tài khoản UTPSZ2AE tổ chức đánh bạc với tổng số tiền 693.232.800 đồng; Vĩnh thua 5.133.780 đồng nên không thu lợi; Vũ E thu lợi số tiền 850.170 đồng.
b. Tài khoản UTPSZ2AB (agent) được chia thành 04 tài khoản (member) gồm: UTPSZ2AB410, UTPSZ2AB444, UTPSZ2AB600, UTPSZ2AB900, V giao cho một đối tượng (không rõ lai lịch) để sử dụng cá cược và quy ước 01 USD = 15.000 đồng. Căn cứ tài liệu mạng thu được, xác định: 04 tài khoản (member) trên đặt cược tổng cộng 1.058 lượt, tổng số tiền cược 60.094 USD x 15.000 đồng = 901.410.000 đồng; tổng số tiền thắng cược 23572,84 USD x 15.000 đồng = 353.592.600 đồng, có nhiều lượt thua. Số tiền thu lợi bất chính 129.556.800 đồng (8637,12 USD x 15.000 đồng) và tiền hoa hồng người chơi được hưởng 9.789.000 đồng (130,52 USD x 5 lần x 15.000 đồng). Trong đó, tài khoản UTPSZ2AB900 đánh 36 lần với số tiền đánh bạc 5.000.000 đồng trở lên, 23 lần cược từ 5.000.000 đồng đến dưới 20.000.000 đồng và 13 lần cược từ 20.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng và 03 lần người chơi đặt cược từ 50.000.000 đồng trở lên. Tổng số tiền người chơi dùng để đánh bạc là 1.255.002.600 đồng, người chơi thua cược phải trả 119.767.800 đồng (129.556.800 đồng – 9.789.000 đồng). Dương Hồ Vũ E, Phạm Văn V sử dụng tài khoản UTPSZ2AB tổ chức đánh bạc là 1.255.002.600 đồng, kết quả: Số tiền thắng và thu lợi bất chính của Phạm Văn V và Dương Hồ Vũ E: mỗi người thắng 25.911.360 đồng (8637,12 USD x 3.000 đồng), số tiền hoa hồng mỗi người phải trích lại 1.957.800 đồng (652,6 USD x 3.00 đồng). V và Dương Hồ Vũ E mỗi người thu lợi số tiền 23.953.560 đồng.
c. Tài khoản UTPSZ2AG (agent) được chia thành 04 tài khoản (member) gồm: UTPSZ2AG001, UTPSZ2AG002, UTPSZ2AG006, UTPSZ2AG009, V giao cho một đối tượng (không rõ lai lịch) để sử dụng cá cược và quy ước 01 USD = 12.000 đồng. Căn cứ tài liệu mạng thu được, xác định: 04 tài khoản (member) trên đặt cược tổng cộng 401 lượt, tổng số tiền cược 32.316 USD x 12.000 đồng = 387.792.000 đồng; tổng số tiền thắng cược 1843,4 USD x 12.000 đồng = 22.120.800 đồng, có nhiều lượt thua. Số tiền thu lợi bất chính 18.052.080 đồng (1.504,34 USD x 12.000 đồng) và tiền hoa hồng người chơi được hưởng 9.952.200 đồng (165,87 USD x 5 lần x 3.000 đồng). Tổng số tiền người chơi dùng để đánh bạc là 409.912.800 đồng, người chơi thua cược phải trả 8.099.880 đồng (18.052.080 đồng – 9.952.200 đồng). Dương Hồ Vũ E sử dụng tài khoản UTPSZ2AG để tổ chức đánh bạc với số tiền là 409.912.800, kết quả: Vũ Em thắng 4.513.020 đồng (1.504,34 x 3.000 đồng), tổng tiền hoa hồng Vũ E phải trích lại cho người chơi 2.488.050 đồng (165,87 USD x 5 x 3.000 đồng). Vũ E thu lợi bất chính 2.024.970 đồng (4.513.020 đồng - 2.488.050 đồng).
Như vậy, xác định được tổng số tiền đánh bạc, thu lợi bất chính của các bị can đối với tài khoản UTPSZ2: Dương Hồ Vũ E sử dụng tài khoản UTPSZ2 để tổ chức đánh bạc với tổng số tiền 2.358.148.650 đồng, thu lợi bất chính 26.828.700 đồng. Phạm Văn V sử dụng tài khoản UTPSZ2AB, UTPSZ2AE tổ để tổ chức đánh bạc với tổng số tiền 1.948.850 đồng, thu lợi bất chính 18.819.780 đồng. Nguyễn Văn Q sử dụng tài khoản UTPSZ2AE002, UTPSZ2AE003 để tổ chức đánh bạc với tổng số tiền 308.239.800 đồng, thua số tiền 1.358.475 nên không thu lợi bất chính.
2. Hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc liên quan đến tài khoản cá độ bóng đá “GJD20F”:
Trong thời gian làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh, Phạm Văn V lấy một tài khoản cá cược ký hiệu “GJD20F” (master) của một người không rõ lai lịch ở nước ngoài với hạn mức tín dụng 200.000 YEN, quy ước 01 YEN = 10.000 Việt Nam đồng, tương đương 2 tỷ đồng để về tổ chức cá cược bóng đá. Vĩnh chia tài khoản này thành 06 tài khoản A để giao cho người chơi cá độ bóng đá gồm: GJD20F00, GJD20F01, GJD20F02, GJD20F03, GJD20F04, GJD20F05. Vĩnh trực tiếp quản lý, sử dụng 04 tài khoản (gồm GJD20F01, GJD20F02, GJD20F03 và GJD20F05 tài khoản này V chưa sử dụng) còn 02 tài khoản GJD20F00 và GJD20F04 Vĩnh không nhớ rõ cụ thể giao cho ai quản lý, sử dụng và quy ước 01 YEN = 15.000 đồng.
Ngoài ra, người cung cấp tài khoản, V và người chơi cá độ còn thỏa thuận chi trả tiền hoa hồng bằng 05 lần tiền hoa hồng gốc thể hiện trong tài khoản cá độ cho người chơi.
Căn cứ tài liệu mạng thu được, xác định trong thời gian từ ngày 01/8/2024 đến ngày 06/9/2024, xác định được kết quả tổ chức đánh bạc và đánh bạc như sau:
a. Tài khoản GJD20F00: V chia thành 04 tài khoản (member) gồm GJD20F0000, GJD20F000H, GJD20F00111, GJD20F001C giao cho người chơi (không rõ lai lịch) để sử dụng cá cược và quy ước 01 YEN = 15.000 đồng. Căn cứ tài liệu mạng thu được, xác định: 04 tài khoản cá độ trên có 2.025 lượt cược, tổng số tiền cá cược 64.888 YEN x 15.000 đồng = 973.320.000 đồng. Số tiền thắng 17001,9 YEN x 15.000 đồng = 225.028.500 đồng, có nhiều lượt thua. Kết quả người chơi thua 48.079.950 đồng (3.205,33 YEN x 15.000 đồng) và số tiền hoa hồng người chơi được hưởng 10.524.000 đồng (140,32 YEN x 5 lần x 15.000 đồng). Tổng số tiền người chơi đánh bạc là 1.228.348.500 đồng, kết quả người chơi thua phải chi trả số tiền 37.555.950 đồng (48.079.950 đồng – 10.524.000 đồng). Tổng số tiền Phạm Văn V tổ chức đánh bạc là 1.228.348.500 đồng, thu lợi bất chính 12.518.650 đồng (3.205,33 YEN x 5.000 đồng – 140,32 YEN x 5 lần x 5.000 đồng).
b. Tài khoản GJD20F01: V giao cho Nguyễn Hoàng Đình P1 (SN: 1991; trú: 203 Đô Đốc L, P.P, TP . Hồ Chí Minh), quy ước 01 YEN = 25.000 đồng. Tài khoản ngày được chia thành 02 tài khoản member (GFD20F01000 và GJD20F01003). Căn cứ tài liệu mạng thu được, xác định: 02 tài khoản trên có tổng 4.226 lượt cược, với tổng số tiền cược 86269 YEN x 25.000 đồng = 2.156.725.000 đồng. Số tiền thắng 19788,11 YEN x 25.000 đồng = 494.702.750 đồng, có nhiều lượt thua. Kết quả người chơi thua 65.206.750 đồng (2608,27 YEN x 25.000 đồng); số tiền hoa hồng người chơi được hưởng 21.726.250 đồng (173,81 YEN x 5 lần x 25.000 đồng). Tổng số tiền người chơi sử dụng để đánh bạc 2.651.427.500 đồng. Kết quả người chơi thua phải trả số tiền 43.480.500 đồng (65.206.750 đồng – 21.726.250 đồng). Như vậy, tổng số tiền Phạm Văn V tổ chức đánh bạc 2.651.427.800 đồng; V thu lợi bất chính 26.088.300 đồng (2608,27 YEN x 15.000 đồng – 173,81 YEN x 5 lần x 15.000 đồng).
c. Tài khoản GJD20F02: V giao cho Nguyễn Văn L1 trong đó 01 tài khoản member GJD20F02000 có hạn mức 500 YEN, quy ước 01 YEN = 20.000 đồng. L1 sử dụng tài khoản này để tham gia chơi đánh bạc. Giữa V và L1 thống nhất vào thứ 2 hàng tuần căn cứ kết quả thắng thua để thực hiện chuyển tiền đánh bạc qua tài khoản ngân hàng. Căn cứ tài liệu mạng thu được, xác định được từ ngày 03/9/2024 đến ngày 06/9/2024, Nguyễn Văn L1 sử dụng tài khoản GJD20F02000 đặt cược 76 lượt, tổng số tiền đặt cược 651 YEN x 20.000 đồng = 13.020.000 đồng, tổng số tiền thắng cược 212,59 YEN x 20.000 đồng = 4.251.800 đồng, có nhiều lượt thua cược. Tổng số tiền thu lợi bất chính 395.800 đồng (19,79 YEN x 20.000 đồng) và tiền hoa hồng L1 được hưởng 142.000 đồng (1,42 YEN x 5 lần x 20.000 đồng). Nguyễn Văn L1 đánh bạc với tổng số tiền 17.271.800 đồng, kết quả L1 chơi thắng nên thu lợi số tiền 537.800 đồng (395.00 đồng + 142.000 đồng). Như vậy, Phạm Văn V tổ chức đánh bạc với số tiền 17.271.800 đồng, Vĩnh thua 268.900 đồng. (19,79 YEN x 10.000 đồng + 1,42 YEN x 5 lần x 10.000 đồng).
d. Tài khoản GJD20F03 Vĩnh chia thành 09 tài khoản (member) gồm: GJD20F03001, GJD20F03002, GJD20F03003, GJD20F03004, GJD20F03005, GJD20F03006, GJD20F0300A, GJD20F0300B, GJD20F0300C. Trong đó:
d.1. Vĩnh giao các tài khoản GJD20F0300A, GJD20F0300B, GJD20F0300C cho Nguyễn Quốc C để sử dụng cá cược bóng đá, cụ thể:
+ Tài khoản GJD20F0300A hạn mức 1000 YEN, quy ước 01 YEN = 40.000 đồng, tiền hòa hồng được hương 5 lần hoa hồng gốc trên tài khoản cá độ. Căn cứ tài liệu mạng thu được xác định:
Từ ngày 19/8/2024 đến ngày 01/9/2024, C cược 143 lượt, tổng số tiền cược 10.775 YEN x 40.000 đồng = 431.000.000 đồng, số tiền thắng cược 4091 YEN x 40.000 đồng = 163.640.000 đồng. Trong đó có 37 lần đánh bạc số tiền 5.000.000 đồng trở lên với tổng số tiền dùng đánh bạc 501.920.000 đồng, 32 trận có số tiền đánh bạc từ 5.000.000 đồng đến dưới 20.000.000 đồng, 05 lần có số tiền đánh bạc từ 20.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng. Kết quả C thua 7.050.000 đồng (176,25 YEN x 40.000 đồng) và tiền hoa hồng được hưởng 4.488.000 đồng (22,44 YEN x 5 lần x 40.000 đồng). Nguyễn Quốc C sử dụng tài khoản GJD20F000A để đánh bạc với số tiền 594.640.000 đồng, kết quả C3 thua nên phải trả số tiền 2.562.000 đồng (7.050.000 đồng – 4.488.000 đồng). Phạm Văn V tổ chức đánh bạc với tổng số tiền 594.640.000 đồng, Vĩnh thắng 5.287.500 đồng (112,2 YEN x 30.000 đồng), số tiền hoa hồng Vĩnh trích lại cho C 3.366.00 đồng (112,2 YEN x 30.000 đồng). Do đó, V thu lợi: 1.921.500 đồng.
+ Tài khoản GJD20F0300B hạn mức 1000 YEN, quy ước 01 YEN = 30.000 đồng, tiền hòa hồng được hương 5 lần hoa hồng gốc trên tài khoản cá độ. Căn cứ tài liệu mạng thu được xác định: Từ ngày 04/8/2025, C cược 16 lượt, tổng số tiền cược 4.000 YEN x 30.000 đồng = 120.000.000đồng, số tiền thắng cược 481,5 YEN x 30.000 đồng = 14.445.000 đồng, có nhiều lượt thua. Kết quả C thua 48.195.000 đồng (1606,5 YEN x 30.000 đồng) và tiền hoa hồng được hưởng 1.098.000 đồng (7,32 YEN x 5 lần x 30.000 đồng). Số tiền Nguyễn Quốc C sử dụng để đánh bạc là 134.445.000 đồng, kết quả C3 thua nên phải trả số tiền 47.097.000 đồng (48.195.000 đồng – 1.098.000 đồng). Phạm Văn V tổ chức đánh bạc với tổng số tiền 134.445.000 đồng, V thu lợi số tiền 31.398.000 đồng (47.097.000 đồng – (1606,5YEN – 36,6 YEN) x 10.000 đồng). Từ ngày 17/8/2024 đến 30/8/2024, C và V quy ước 01 YEN = 40.000 đồng. Xác định được thời gian này C cược 110 lượt, tổng số tiền cược 10.389 YEN x 40.000 đồng = 415.560.000 đồng; số tiền cược thắng 2.927,25 YEN x 40.000 đồng = 117.090.000 đồng, có nhiều lượt thua. Kết quả C chơi thua 49.861.000 đồng (1.246.56 YEN x 40.00 đồng) và tiền hoa hồng được hưởng 3.856.000 đồng (19,28 YEN x 5 lần x 40.00 đồng). Số tiền C sử dụng để đánh bạc 532.650.000 đồng, kết quả C chơi thua phải chi trả số tiền 46.006.400 đồng (49.861.000 đồng – 3.856.000 đồng). Trong đó, C có 42 lần đặt cược với số tiền 5.000.000 đồng trở lên tổng số tiền 620.235.000 đồng, 37 lần cược số tiền đánh bạc từ 5.000.000 đồng đến dưới 20.000.000 đồng, có 05 lần cược số tiền từ 20.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng. Như vậy, Nguyễn Quốc C sử dụng tài khoản GJD20F0300B để đánh bạc với số tiền 667.095.000 đồng (14.389 YEN x 40.000 đồng), kết quả C thua với số tiền 93.103.400 đồng. Số tiền Phạm Văn V sử dụng để tổ chức đánh bạc với tài khoản GJD20F0300B với số tiền 667.095.000 đồng thu lợi 65.902.800 đồng.
+ Tài khoản GJD20F0300C hạn mức 1000 YEN, quy ước 01 YEN = 40.000 đồng, tiền hoa hồng được hưởng 5 lần hoa hồng gốc trên tài khoản cá độ. Căn cứ tài liệu mạng thu được xác định:
Từ ngày 21/8/2024 đến 01/9/2024, C cược 123 lượt, tổng số tiền cược 14.880 YEN x 40.000 đồng = 595.200.000 đồng, số tiền thắng cược 3442 YEN x 40.000 đồng = 137.680.000 đồng, có nhiều lượt thua. Kết quả C thua 124.260.000 đồng (3.106,5 YEN x 340.000 đồng) và tiền hoa hồng được hưởng 5.572.000 đồng (27,86 YEN x 5 lần x 40.000 đồng). Trong đó, có 44 lần có số tiền đánh bạc từ 5.000.000 đồng trở lên với số tiền 660.010.000 đồng, 32 lần có số tiền đánh bạc từ 5.000.000 đồng – đến dưới 20.000.000 đồng, 12 lần có số tiền đánh bạc từ 20.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng. Số tiền Nguyễn Quốc C sử dụng để đánh bạc là 732.880.000 đồng, kết quả C thua nên phải trả số tiền 118.688.000 đồng (124.260.000 đồng – 5.572.000 đồng). Phạm Văn V tổ chức đánh bạc với tổng số tiền 732.880.000 đồng, V thu lợi số tiền 89.016.000 đồng (118.688.000 đồng – (3.106,5 YEN – 139,3 YEN) x 10.000 đồng). Như vậy, tổng số tiền Nguyễn Quốc C sử dụng để đánh bạc của 03 tài khoản GJD20F0300A, GJD20F0300B, GJD20F0300C là 1.994.615.000 đồng, kết quả C chơi thua 214.353.400 đồng. Phạm Văn V tổ chức cho C đánh bạc với tổng số tiền 1.994.615.000 đồng, thu lợi bất chính 156.840.300 đồng
d.2. Vĩnh giao tài khoản GJD20F03004 cho bị cáo Nguyễn Trọng T: Hạn mức 5.000 YEN, quy ước 01 YEN = 40.000 đồng, tiền hoa hồng T được hưởng 5 lần tiền hoa hồng gốc trong tài khoản cá độ. Căn cứ tài liệu mạng thu được, xác định được từ 21/7/2024 đến 01/8/2024, Nguyễn Trọng T cá cược 69 lượt với tổng số tiền cá cược 6.750 YEN x 40.000 đồng = 270.000.000 đồng. Số tiền thắng cược 279,95 YEN x 40.000 đồng = 11.198.000 đồng, có nhiêu lượt thua. Kết quả Tấn thua 61.357.200 đồng (1.533,93 YEN x 40.000 đồng) và tiền hoa hồng được hưởng 2.722.000 đồng (13,61 YEN x 5 lần x 40.000 đồng). Trong đó, T có 06 lần đánh bạc với số tiền 5.000.000 đồng trở lên với tổng số tiền 239.832.000 đồng, 03 lần đánh bạc số tiền từ 5.000.000 đồng đến dưới 20.000.000 đồng, 01 lần đánh bạc số tiền từ 20.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng và 02 lần đánh bạc có số tiền từ 50.000.000 đồng trở lên với tổng số tiền 188.000.000 đồng. Tổng số tiền T sử dụng để đánh bạc là 281.198.000 đồng, T chơi thua nên phải chi trả số tiền 58.635.200 đồng (61.357.200 đồng – 2.722.000 đồng). Phạm Văn V tổ chức cho T đánh bạc với tổng số tiền 281.198.000 đồng, thu lợi 43.976.400 đồng (58.635.200 đồng – (1.533,93 YEN – 68,05 YEN) x 10.000 đồng).
d.3. Vĩnh giao tài khoản GJD20F03002 cho Nguyễn Văn Q để Q giao lại cho người chơi cá độ sử dụng trực tiếp. Hạn mức 3.000 YEN, V và Q quy ước với người chơi 01 YEN = 40.000 đồng. V cho Q tham gia chung tiền để tổ chức là 5.000 đồng/01 YEN và cho Q hưởng tiền hoa hồng là 0,5 lần tiền hoa hồng gốc trên tài khoản cá độ Vĩnh trích cho người chơi (còn người chơi được hưởng hoa hồng 4,5 lần). Q giao tài khoản này cho T2 (không rõ lai lịch). Từ ngày 21/8/2024 đến 30/8/2024, T2 cược 436 lượt, tổng số tiền cá cược 57.900 YEN x 40.000 đồng = 2.316.000.000 đồng. Số tiền cược thắng 22.056 YEN x 40.000 đồng = 882.240.000 đồng. Kết quả T2 chơi thua 70.1100.000 đồng (1.752,5 YEN x 40.000 đồng) và tiền hoa hồng người chơi được hưởng 21.758.400 đồng (120,88 YEN x 4,5 lần x 40.000 đồng). Trong đó, có 229 lần số tiền đánh bạc từ 5.000.000 đồng trở lên tổng số tiền 2.854.240.000 đồng, có 34 lần người chơi đánh bạc từ 20.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng với số tiền 936.040.000 đồng, không có lần nào đánh bạc với số tiền từ 50.000.000 đồng trở lên. Số tiền T2 sử dụng để đánh bạc là 3.198.240.000 đồng, chơi thua với số tiền 3.198.240.000 đồng. Phạm Văn V, Nguyễn Văn Q tổ chức cho T2 đánh bạc với tổng số tiền 3.198.240.000 đồng. Trong đó, V thắng 43.812.500 đồng (1.752,5 YEN x 25.000 đồng), tiền hòa hồng Vĩnh trích lại 18.132.000 đồng (120,88 YEN x 5 lần x 30.000 đồng). Vĩnh thu lợi 25.680.500 đồng. Nguyễn Văn Q thắng 8.762.500 đồng (1.752,5 YEN x 5.000 đồng) và tiền hoa hồng Q được hưởng 2.417.600 đồng (120,88 YEN x 0,5 lần x 40.000 đồng).
d.4. Vĩnh giao các tài khoản GJD20F03005 (hạn mức 6000 YEN, quy ước 01 YEN = 30.000 đồng) và tài khoản GJD20F03006 (hạn mức 1000 YEN, quy ước 01 YEN = 20.000 đồng) cho bị cáo Nguyễn Văn L1, ngoài ra tiền hoa hồng L1 được hương = 5 lần hoa hồng gốc trong tài khoản cá độ. Căn cứ tài liệu mạng thu được xác định:
+ Tài khoản GJD20F03005: Từ ngày 31/8/2024 đến 06/9/2024, L1 cược 96 lượt, với tổng số tiền cá cược 16.187 YEN x 30.000 đồng = 485.610.000 đồng. Số tiền cược thắng 7081,6 YEN x 30.000 đồng = 212.448.000 đồng. Kết quả L1 thắng, thu lợi 43.956.600 đồng (1.465,22 YEN x 30.000 đồng) và tiền hoa hồng L1 được hưởng 3.048.000 đồng (20,32 YEN x 5 x 30.000 đồng). Trong đó, có 55 lần L1 cược với số tiền 5.000.000 đồng trở lên với số tiền 678.430.500 đồng, 50 lần cược số tiền đánh bạc từ 5.000.000 đồng đến dưới 20.000.000 đồng, 05 lần cược với số tiền đánh bạc 20.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng. Số tiền L1 sử dụng để đánh bạc 698.058.000 đồng, kết quả L1 thắng nên thu lợi 47.004.600 đồng (43.956.600 đồng + 3.048.000 đồng). Phạm Văn V tổ chức cho L1 đánh bạc với số tiền 698.058.000 đồng, Vĩnh thua 31.336.400 đồng (47.004.600 đồng – (1.465,22 YEN + 101,6 YEN) x 10.000 đồng).
+ Tài khoản GJD20F03006: Từ ngày 31/8/2024 đến 06/9/2024, L1 cược 162 lượt, với tổng số tiền cá cược 2.335 YEN x 20.000 đồng = 46.700.000 đồng. Số tiền cược thắng 884,6 YEN x 20.000 đồng = 17.692.000 đồng. Kết quả L1 thua 1.720.000 đồng (86 YEN x 20.000 đồng) và tiền hoa hồng L1 được hưởng 510.000 đồng (5,1 YEN x 5 x 20.000 đồng). Trong đó, có 01 lần L1 cược số tiền đánh bạc từ 5.000.000 đồng trở lên với số tiền 5.164.000 đồng, các lần đánh bạc còn lại số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đòng. Số tiền L1 sử dụng để đánh bạc 64.392.000 đồng, kết quả L1 thua phải tri trả số tiền 1.210.000 đồng (1.720.000 đồng – 510.000 đồng). Phạm Văn V tổ chức cho L1 đánh bạc với số tiền 64.392.000 đồng, V thu lợi 605.000 đồng (1.210.000 đồng – (86 YEN + 25 YEN) x 10.000 đồng). Tổng số tiền Nguyễn Văn L1 sử dụng đánh bạc đối với 02 tài khoản trên là 762.450.000 đồng, thu lợi 45.794.600 đồng. Phạm Văn V tổ chức đánh bạc cho L1 với tổng số tiền 762.450.000 đồng, kết quả Vĩnh thua số tiền 30.741.400 đồng nên không thu lợi.
d.5 Vĩnh giao các tài khoản GJD20F03001, GJD20F03002, GJD20F03003 giao cho người chơi (không rõ lai lịch) sử dụng để cá cược bóng đá, cụ thể:
+ Tài khoản GJD20F03001: Vĩnh giao cho Nguyễn Công T3 (SN: 1980; trú: P.B, TP . Hồ Chí Minh; chưa làm việc) đánh bạc, quy ước 01 YEN = 20.000 đồng. Căn cứ tài liệu mạng thu được xác định: Từ ngày 01/8/2024 đến ngày 06/9/2024, T3 chơi 618 lượt với tổng số tiền cá cược 38.940 YEN x 20.000 đồng = 778.800.000 đồng. Số tiền thắng cược 11690,6 x 20.000 đồng = 233.812.000 đồng, có nhiều lượt thua. Kết quả T3 chơi thua 333.000 đồng (16,65 YEN x 20.000 đồng) và tiền hoa hồng T3 được hưởng 8.009.000 đồng (80,09 YEN x 5 lần x 20.000 đồng).Tổng số tiền Nguyễn Công T3 sử dụng để đánh bạc là 1.012.612.000 đồng, thu lợi 7.676.000 đồng (8.009.000 đồng – 333.000 đồng). Phạm Văn V tổ chức cho T3 đánh bạc với số tiền 1.012.612.000 đồng, Vĩnh thua 3.838.000 đồng (7.676.000 đồng – (400,45 YEN – 16,65 YEN) x 10.000 đồng).
+ Tài khoản GJD20F03003: V giao cho người chơi (không rõ lai lịch) để cá cược, quy ước 01 YEN = 15.000 đồng. Căn cứ tài liệu mạng thu được xác định: Từ ngày 01/8/2024 đến ngày 06/9/2024, người chơi cược 738 lượt với tổng số tiền cá cược 19434 YEN x 15.000 đồng = 291.510.000 đồng. Số tiền thắng cược 6338,28 x 15.000 đồng = 95.074.200 đồng, có nhiều lượt thua. Kết quả người chơi thắng hưởng lợi 2.494.800 đồng (166,32 YEN x 15.000 đồng) và tiền hoa hồng T3 được hưởng 2.902.500 đồng (38,61 YEN x 5 lần x 15.000 đồng). Tổng số tiền người chơi sử dụng để đánh bạc là 386.583.900 đồng, thu lợi 5.390.550 đồng (2.494.800 đồng + 2.902.500 đồng). Phạm Văn V tổ chức cho người chơi đánh bạc với số tiền 386.583.900 đồng, Vĩnh thua 1.796.850 đồng (5.390.550 đồng – (166,32 YEN + 193,05 YEN) x 10.000 đồng). Như vậy, Phạm Văn V sử dụng tài khoản GJD20F03 để tổ chức đánh bạc cho nhiều người với tổng số tiền 6.635.680.000 đồng, thu lợi 193.152.9250 đồng.
e. Tài khoản GJD20F04 Vĩnh chia thành 05 tài khoản (member) gồm: GJD20F04000,
GJD20F04003,
GJD20F0400A,
GJD20F0400D
và GJD20F0400E giao cho người chơi (không rõ lai lịch) sử dụng để cá cược bóng đá, quy ước 01 YEN = 15.000 đồng. Căn cứ tài liệu mạng thu được xác định: Từ ngày 01/8/2024 đến 06/9/2024, người chơi cược 9825 lượt với tổng số tiền cá cược 152259 YEN x 15.000 đồng = 2.283.735.000 đồng. Số tiền cược thưáng 27449,93 YEN x 15.000 đồng = 411.748.950 đồng, có nhiều lượt thua. Kết quả người chơi thua 65.042.700 đồng (4336,18 YEN x 15.000 đồng) và số tiền hoa hồng được hưởng 23.133.750 đồng (308,45 YEN x 5 lần x 15.000 đồng). Số tiền người chơi sử dụng để đánh bạc là 2.695.483.950 đồng, kết quả người chơi thua phải chi trả số tiền 41.908.950 đồng (65.042.700 đồng – 23.133.750 đồng). Phạm Văn V tổ chức cho người chơi đánh bạc với số tiền 2.695.483.950 đồng, V thu lợi 13.969.650 đồng (41.908.950 đồng – (4336,18 YEN – 1542,25 YEN) x 10.000 đồng). Như vậy, đối với tài khoản cá độ GJD20F Phạm Văn V đã sử dụng để tổ chức đánh bạc với tổng số tiền 14.228.230.900 đồng, thu lợi 242.438.650 đồng.
* Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q (cũ) nay là Cơ quan CSĐT Công an TP.Đà Nẵng xác định được tổng số tiền tổ chức đánh bạc, đánh bạc và thu lợi bất chính của các bị cáo, cụ thể:
- Dương Hồ Vũ E sử dụng tài khoản UTPSZ2 để tổ chức đánh bạc với tổng số tiền 2.358.148.650 đồng, thu lợi bất chính 26.828.700 đồng.
- Phạm Văn V sử dụng 02 tài khoản UTPSZ2 và GJD20F để tổ chức đánh bạc với tổng số tiền 16.176.466.750 đồng, thu lợi bất chính 261.258.430 đồng.
- Nguyễn Văn Q sử dụng 03 tài khoản UTPSZ2AE002, UTPSZ2AE003, GJD20F03002 để tổ chức đánh bạc với tổng số tiền 3.506.479.800 đồng, thu lợi bất chính 9.821.625 đồng.
- Nguyễn Quốc C sử dụng 03 tài khoản GJD20F0300A, GJD20F0300B, GJD20F0300C để đánh bạc với tổng số tiền 1.994.615.000 đồng, kết quả đánh bạc thua nên không thu lợi bất chính (trong đó, có 123 lần đánh bạc với số tiền đánh bạc mỗi lần từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng).
- Nguyễn Trọng T sử dụng tài khoản GJD20F03004 để đánh bạc với tổng số tiền 281.198.000 đồng, kết quả đánh bạc thua nên không thu lợi bất chính (trong đó, có 05 lần đánh bạc với số tiền đánh bạc mỗi lần từ 5.000.000 đồng trở lên, 02 lần đánh bạc với số tiền đánh bạc mỗi lần từ 50.000.000 đồng trở lên).
- Nguyễn Văn L1 sử dụng 03 tài khoản GJD20F03005, GJD20F03006, GJD20F02000 để đánh bạc với tổng số tiền 762.450.000 đồng, thu lợi bất chính 45.794.600 đồng (trong đó, có 56 lần đánh bạc với số tiền đánh bạc mỗi lần từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng).
Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2026/HS-ST ngày 26/3/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 10- Đà Nẵng đã quyết định:
1. Căn cứ: Điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 322; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025).Tuyên bố: Bị cáo Dương Hồ Vũ E, Nguyễn Văn Q phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
Xử phạt: Bị cáo Dương Hồ Vũ E 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án nhưng được trừ thời gian bị cáo đã bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/9/2024 đến ngày 27/12/2024. Xử phạt bổ sung bị cáo Dương Hồ Vũ E số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Q 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt trong trường hợp khẩn cấp là ngày 07/9/2024. Xử phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn Q số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
2. Căn cứ: Điểm b, c khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025). Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trọng T phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trọng T 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án nhưng được trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/9/2024 đến ngày 22/01/2025. Xử phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Trọng T số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
3. Căn cứ: Điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025). Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc C phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc C 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án nhưng được trừ thời gian bị cáo bị bắt trong trường hợp khẩn cấp chuyển sang tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/9/2024 đến ngày 19/5/2025. Xử phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Quốc C số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt của bị cáo Phạm Văn V và Nguyễn Văn L1, về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm,
Ngày 07/12/2025, bị cáo Nguyễn Quốc C có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 27/3/2026, bị cáo Nguyễn Văn Q có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 06/4/2026, các bị cáo: Dương Hồ Vũ E và Nguyễn Trọng T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm
Bị cáo Nguyễn Văn Q rút đơn kháng cáo.
Các bị cáo Dương Hồ Vũ E, Nguyễn Quốc C, Nguyễn Trọng T thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh như bản án sơ thẩm đã tuyên là đúng, không oan. Các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo, trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, tham gia công tác thiện nguyện và đã chấp hành nộp tiền án phí, tiền truy thu, tiền phạt bổ sung của bản án sơ thẩm để xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:
Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo có đầy đủ nội dung theo thủ tục kháng cáo và trong thời hạn luật định nên đảm bảo hợp lệ. Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn Q tự nguyện rút kháng cáo nên đề nghị cấp phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Nguyễn Văn Q.
Về nội dung kháng cáo của các bị cáo Đại diện Viện kiểm sát xét thấy: Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, xử các bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Các bị cáo Nguyễn Văn Q, Dương Hồ Vũ E, Nguyễn Quốc C, Nguyễn Trọng T kháng cáo trong thời hạn luật định, hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn Q rút đơn kháng cáo. Xét việc rút kháng cáo của bị cáo Q là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của Nguyễn Văn Q, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn Q.
. Về nội dung: Xét kháng cáo của các bị cáo thì thấy:
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Dương Hồ Vũ E, Nguyễn Quốc C, Nguyễn Trọng T đã thừa nhận hành vi phạm tội, đồng ý với tội danh và điều luật áp dụng mà Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2026/HS-ST ngày 26/3/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 10- Đà Nẵng đã tuyên xử đối với các bị cáo là có căn cứ, không oan. Tuy nhiên, các bị cáo cho rằng mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng là quá nghiêm khắc nên đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, bị cáo Dương Hồ Vũ E đã sử dụng tài khoản UTPSZ2 để tổ chức đánh bạc cho nhiều người với tổng số tiền 2.358.148.650 đồng, thu lợi bất chính số tiền 26.828.700 đồng. Bị cáo Nguyễn Quốc C sử dụng mạng internet tham gia đánh bạc với tổng số tiền đánh bạc 1.994.615.000 đồng, thua 214.353.400 đồng, trong đó có 86 lần đặt cược với số tiền 5.000.000 đồng trở lên. Bị cáo Nguyễn Trọng T sử dụng mạng internet tham gia đánh bạc với tổng số tiền đánh bạc 281.198.000 đồng, thua 58.635.200 đồng, trong đó có 06 lần đánh bạc với số tiền trên 5.000.000 đồng bao gồm 02 lần đánh bạc có số tiền từ 50.000.000 đồng trở lên. Hành vi của các bị cáo làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội tại địa phương. Do đó cần phải xử phạt nghiêm các bị cáo tương xứng với tính chất mức độ phạm tội và hậu quả của vụ án để răn đe giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã phân hoá vai trò, đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo trên cơ sở số tiền các bị cáo dùng đánh bạc, số lần đánh bạc và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt các bị cáo mức án như trên là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, cha mẹ già yếu, các con còn nhỏ và đã nộp biên lai thu các khoản tiền án phí, thu lợi bất chính và tiền phạt bổ sung. Riêng đối với bị cáo Dương Hồ Vũ E và Nguyễn Trọng T có trình bày đã tham gia công tác thiện nguyện, giúp đỡ các hoàn cảnh khó khăn tại địa phương và các tỉnh Miền Trung trong đợt thiên tai lũ lụt nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo sớm trở về để hoà nhập cộng đồng và chăm lo cho gia đình. Tuy nhiên, đây không phải là những tình tiết làm thay đổi mức hình phạt mà Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với các bị cáo. Việc các bị cáo nộp các khoản án phí, tiền thu lợi bất chính và tiền phạt là nghĩa vụ của các bị cáo phải chấp hành bản án không phải là tình tiết giảm nhẹ mới. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tại phiên tòa là phù hợp.
Đối với các phần khác tại quyết định của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Do không chấp nhận kháng cáo nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
I. Căn cứ khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Q. Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2026/HS-ST ngày 26/3/2026 của Toà án nhân dân Khu vực 10- Đà Nẵng có hiệu lực thi hành đối với bị cáo Nguyễn Văn Q kể từ ngày đình chỉ xét xử phúc thẩm.
II. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo: Dương Hồ Vũ E, Nguyễn Quốc C, Nguyễn Trọng T. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2026/HS-ST ngày 26/3/2026 của Toà án nhân dân Khu vực 10- Đà Nẵng.
Tuyên xử:
1. Áp dụng: Điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 322; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025).
Xử phạt: Bị cáo Dương Hồ Vũ E 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt giam thi hành án nhưng được trừ thời gian bị cáo đã bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/9/2024 đến ngày 27/12/2024.
Xử phạt bổ sung bị cáo Dương Hồ Vũ E số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng). Bị cáo đã thi hành xong theo biên lai thu tiền số 0002311 ngày 24/6/2026 của Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
2. Áp dụng: Điểm b, c khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trọng T 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt giam thi hành án nhưng được trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/9/2024 đến ngày 22/01/2025.
Xử phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Trọng T số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng). Bị cáo đã thi hành xong theo biên lai thu tiền số 0002313 ngày 24/6/2026 của Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
3. Áp dụng: Điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc C 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt giam thi hành án nhưng được trừ thời gian bị cáo bị bắt trong trường hợp khẩn cấp chuyển sang tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/9/2024 đến ngày 19/5/2025.
Xử phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Quốc C số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng). Bị cáo đã thi hành xong theo biên lai thu tiền số 0002312 ngày 24/6/2026 của Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
III. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội;
- Bị cáo Nguyễn Văn Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các bị cáo Dương Hồ Vũ E, Nguyễn Quốc C, Nguyễn Trọng T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
IV. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
V. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Đà Nẵng; - Vụ giám đốc kiểm tra 1; - TAND Khu vực 10- Đà Nẵng; - VKSND Khu vực 10-Đà Nẵng; - Cơ quan CSĐT CATP Đà Nẵng; - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ CATPĐN; - Phòng THADS Khu vực 10-Đà Nẵng; - Bị cáo; người tham gia tố tụng; - Lưu: HS; HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Hữu Thị Hảo Hảo |