- Tranh chấp gì? "Nguyễn Văn T "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên b bị c o Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ điểm c, điểm e khoản 2 Điều 138; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 của ộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết s 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Qu c hội.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật T tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| ản n s : 26/2018/HS-PT Ngày: 15-5-2018 |
NHÂN DANH
Ủ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông guyễ Kim ồ g
Các Thẩm phán:
Bà à g ị i
ươ g
Ông guyễ ă P
- ư ký iê tòa: Bà à
ị ươ g - Thư ký Tòa n nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- i diện Viện kiểm sát nhân dân tỉ
âm ồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị à - Kiểm sát viên.
Ngày 15 th ng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý s 42/2018/TLPT-HS ngày 24-4-2018 đ i với các bị cáo Nguyễn Văn T; do kháng cáo của bị hại ông Đoàn Văn C đ i với bản án hình sự sơ thẩm s 11/2018/HS-ST ngày 20-3-2018 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị cáo bị kháng cáo:
Nguyễn Văn T, sinh năm 1970 tại Th i ình; Nơi cư trú: thôn Đ, xã NN, huyện H, tỉnh Th i ình; Nghề nghiệp: Thợ hồ; Trình độ văn hóa 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Qu c tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T (đã chết), con bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1937; Vợ là Kim Thị N (đã ly hôn năm 1998); có hai con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 1996.
Tiền n: Năm 2002 bị Tòa n nhân dân huyện C, tỉnh Gia Lai xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Năm 2004 bị Tòa n nhân dân huyện H, tỉnh Th i ình xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Năm 2008 bị Tòa n nhân dân thành ph B, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Năm 2012 bị Tòa n nhân dân quận K, thành ph Hải Phòng xử phạt 04 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 05-11-2015.
ị c o bị bắt tạm giữ từ ngày 28-9-2017 hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện D. Có mặt.
- Bị hại kháng cáo:
Ông Đoàn Văn C, sinh năm 1958; Nơi cư trú: Tổ dân ph 5A, thị trấn N, huyện G, tỉnh Nam Định. Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Trong vụ án này, bị hại Văn phòng huyện ủy D; ông Nguyễn C; ông Hồ Sỹ H; nguyên đơn dân sự TAND huyện G, tỉnh Nam Định; người liên quan anh T, anh Q không kháng cáo, không bị cáo kháng, kháng nghị
N I DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, hành vi bị cáo bị truy t , xét xử được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ ngày 28-8-2017, bị c o T đi xe đò từ huyện Đ đến thị trấn D, huyện D để trộm cắp tài sản. Đến khoảng 20 giờ 30 cùng ngày, bị c o xu ng xe đi bộ đến khu vực phía sau trụ sở Huyện ủy và U ND huyện D. Sau khi quan sát không có người, bị c o trèo qua hàng rào sau đó vào khu nhà làm việc của Huyện ủy D, mở cửa vào phòng làm việc của í thư Huyện ủy lấy một máy tính xách tay (hiệu Dell Inspiron N3558D), 01 con chuột m y tính, một chứng minh nhân dân (sau đây viết tắt CMND) tên Nguyễn C. ị c o tiếp tục cậy cửa phòng làm việc của Ch nh văn phòng Huyện ủy lấy 01 m y tính x ch tay (hiệu Dell Inspiron Intell Core I30430U), 01 đôi giày thể thao hiệu ADIDAS, s tiền 200.000đ; một CMND tên Hồ Sỹ H. ị c o nghỉ mệt một lúc, sau đó bị c o tiếp tục cậy cửa vào phòng làm việc của Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy lấy 03 kg trà Ô Long, một chai rượu Remy Martin VSOP Black; sau đó bị cáo leo qua hàng rào ra ngoài đến Công viên Di Linh ngồi chờ, đến khoảng 05 giờ 30 ngày 29-8-2017, bị c o đón xe đò xu ng ngã ba Dầu Giây thuộc tỉnh Đồng Nai, sau đó đón xe đò về tỉnh Th i ình.
ị c o T bán cho anh Th máy tính xách tay (hiệu Dell Inspiron Intell Core I30430U) được 1.500.000đ; bán cho anh H m y tính hiệu (Dell Inspiron N3558D) được 3.000.000đ, sau đó anh Q bán lại cho người kh c nhưng không rõ họ, tên, địa chỉ nên không thu hồi được. Đ i với c c tài sản 01 đôi giày thể thao, 03kg trà Ô Long; 01 chai rượu Remy Martin VSOP lack. CMND tên Nguyễn C, CMND tên Hồ Sỹ Huy, bị c o khai đã bỏ trên xe đò đi từ thị trấn D đến ngã ba D, tỉnh Đồng Nai, nên không thu hồi được,
Ngoài ra, chiều t i ngày 09-9-2017, bị c o đến thị trấn N, huyện G, tỉnh Nam Định với mục đích trộm cắp tài sản. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, bị c o đến trụ sở Tòa n nhân dân huyện G, tỉnh Nam Định (sau đây viết tắt TAND huyện G); bị c o trèo qua hàng rào phía trước thấy 01 con dao; 01 đôi găng tay cao su ở khu vực phía sau trụ sở, bị c o sử dụng những vật này, trèo lên cây nhãn gi p tường lên tầng 2, đến phòng s 207 (phòng làm việc của Chánh án ông Đoàn Văn C) dùng dao cạy nẹp cửa, ổ khóa của phòng, tiếp tục dùng dao cạy cửa tủ lấy được một xấp tiền bỏ vào túi quần, sau đó bị c o ra nhà vệ sinh gần đó th o đôi găng tay cho vào chậu xả nước với mục đích để xóa dấu vết, rồi theo l i cũ xu ng dưới, trèo qua hàng rào ra đường về nhà nghỉ, bị c o đếm s tiền trộm cắp 73.000.000đ.
Tài sản bị c o trộm cắp tại huyện D được trưng cầu định gi trong t tụng hình sự; x c định một máy tính xách tay (hiệu Dell Inspiron Intell Core I30430U) trị gi 11.115.000đ; một máy tính xách tay (hiệu Dell Inspiron N3558D) trị gi 10.400.000đ; 01 đôi giày thể thao hiệu ADIDAS trị gi 200.000đ; 03kg trà Ô Long trị gi 1.005.000 đồng; 01 chai rượu Remy Martin VSOP lack trị gi 1.000.000đ.
Đ i với máy tính xách tay (hiệu Dell Inspiron Intell Core I30430U), cơ quan điều tra đã thu hồi của anh Th, sau đó xử lý vật chứng trả cho Văn phòng Huyện ủy D; ông Th yêu cầu bị c o bồi thường s tiền 1.500.000đ. Đ i với tài sản bị c o trộm cắp không thu hồi được, Văn phòng huyện ủy D yêu cầu bị c o bồi thường c c tài sản gồm một máy tính xách tay (hiệu Dell Inspiron N3558D); 03kg trà Ô Long; 01 chai rượi Remy Martin VSOP lack trị gi 12.405.000đ. Ông H yêu cầu bồi thường tài sản c nhân là 200.000đ; 01 đôi giày thể thao hiệu ADIDAS trị gi 200.000đ.
Tài sản bị c o trộm cắp tại TAND huyện G s tiền 73.000.000đ được x c định tài sản của cá nhân ông C. Tuy nhiên, ông C x c định bị mất 119.000.000đ và yêu cầu bị c o bồi thường, còn bị c o chỉ thừa nhận trộm được 73.000.000đ. Đ i với cửa phòng bị hư hỏng, TAND huyện G đã sửa chữa hết s tiền 497.000đ; yêu cầu bị c o yêu cầu bồi thường.
Vật chứng: Công an huyện G đã thu giữ 01 túi nhựa, 03 phong bì, 01 vỏ bao lì xì; 02 túi nylong trả cho chủ sở hữu ông Ca; thu giữ 01 con dao, 01 đôi găng tay cao su; 01 nẹp cửa, sau đó xử lý vật chứng trả lại cho TAND huyện G.
Tại bản n s 11/2018/HS-ST ngày 20-3-2018 của TAND huyện D tuyên b bị c o Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm c, điểm e khoản 2 Điều 138; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 của ộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 (sau đây gọi chung Bộ luật hình sự năm 1999); Nghị quyết s 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Qu c hội.
Xử phạt bị c o Nguyễn Văn T 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28-9-2017.
Về tr ch nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 42 ộ luật Hình sự năm 1999; các Điều 584, 585, 586, 589 của ộ luật Dân sự.
Chấp nhận một phần yêu cầu của bị hại ông Đoàn Văn C, buộc bị c o Nguyễn Văn T bồi thường cho bị hại ông Đoàn Văn C s tiền 73.000.000đ. Không chấp nhận một phần yêu cầu của bị hại ông Đoàn Văn C; yêu cầu bị c o T bồi thường s tiền 46.000.000đ.
Ngoài ra, bản n còn buộc bị c o bồi thường cho bị hại, xử lý vật chứng; buộc chịu n phí, tuyên quyền kháng c o, quyền yêu cầu thi hành n theo quy định ph p luật.
Ngày 29-3-2018 bị hại ông Ca kh ng c o yêu cầu bị c o bồi thường tổng s bị c o trộm cắp 119.000.000đ; kh ng c o về án phí dân sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm; Bị cáo T khai nhận như bản n sơ thẩm quy kết, không thắc mắc khiếu nại đ i với bản n sơ thẩm. Liên quan đến kháng cáo của bị hại ông C, bị cáo T x c định chỉ trộm được s tiền 73.000.000đ, nên đồng ý bồi thường cho bị hại ông C s tiền này; không chấp nhận kháng cáo của bị hại ông C về yêu cầu bồi thường 119.000.000đ.
Đ i với bị hại ông C vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; đồng thời x c định bị cáo trộm của bị hại s tiền 119.000.000đ, chứ không phải s tiền 73.000.000đ như n sơ thẩm quy kết, bản n sơ thẩm còn buộc bị hại chịu n phí là không đúng; đề nghị chấp nhận kháng cáo buộc bị cáo bồi thường 119.000.000đ; bị hại không phải chịu án phí dân sự
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị bị hại; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật T tụng hình sự năm 2015; giữ nguyên bản n sơ thẩm
NHẬ ỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ n, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ n đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về t tụng: Bị hại ông C kh ng c o nhưng vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 351 của Bộ luật t tụng hình sự, để tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
- Về tư c ch t tụng: Bản n sơ thẩm x c định TAND huyện G là nguyên đơn dân sự là không đúng. ởi lẽ bị cáo cậy cửa vào phòng trộm cắp gây thiệt hại hư hỏng phải sửa chữa lại khóa cửa phòng, nẹp cửa phòng trị gi 497.000đ. Tuy nhiên, hành vi gây thiệt hại này không bị truy t nhưng buộc bị cáo phải bồi thường là đúng, nên x c định tư c ch t tụng của TAND huyện G là “người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan” mới đúng quy định Điều 65 của Bộ luật T tụng hình sự. Ngoài ra, bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của Văn phòng Huyện ủy D và bị truy t , nên x c định tư c ch t tụng của Văn phòng Huyện ủy D là “nguyên đơn dân sự” mới đúng quy định Đều 63 của Bộ luật T tụng hình sự. Tuy nhiên, bản n sơ thẩm x c định Văn phòng Huyện ủy D là “bị hại” là không đúng, nên cần rút kinh nghiệm chung.
[2] Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 28-8-2017, bị c o T trèo qua hàng rào sau đó vào khu nhà làm việc của Huyện ủy D, mở cửa c c vào phòng làm việc của í thư; Ch nh văn phòng; Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy, bị c o T đã trộm c c 02 máy tính xách tay (01 cái hiệu Dell Inspiron N3558D; 01 cáo hiệu Dell Inspiron Intell Core I30430U); 01 chuột m y vi tính; 03 kg trà Ô Long, một chai rượi Remy Martin VSOP lack thuộc tài sản của huyện Ủy Di Linh; 01 đôi giày thể thao hiệu ADIDAS, s tiền 200.000đ của bị hại ông H; một CMND tên Nguyễn C, một CMND tên Hồ Sỹ H. Tổng gi trị tài sản bị c o trộm cắp là 23.920.000đ
Đến khoảng 23 giờ ngày 09-9-2017, bị c o đến trụ sở TAND huyện G, tỉnh Nam Định; bị c o trèo qua hàng rào phía trước vào trụ sở Tòa n, sau đó tiếp tục trèo lên cây nhãn gi p tường lên tầng 2, bị c o lấy đôi găng tay cao su, dao tại trụ sở Tòa n, sau đó cạy nẹp cửa, ổ khóa của phòng làm việc của Ch nh n ông Đoàn Văn C (phòng số 207), tiếp tục dùng dao cạy cửa tủ lấy được một xấp tiền bỏ vào túi quần, sau đó bị c o theo l i cũ xu ng dưới, trèo qua hàng rào ra đường về nhà nghỉ, bị c o đếm được s tiền 73.000.000đ trộm cắp trong tủ phòng làm việc của ông C.
Đ i chiếu giữa lời khai của bị c o, biên bản kh m nghiệm hiện trường, lời khai bị hại, người liên quan ông Th, ông Q; kết luận định gi trong t tụng hình sự x c định gi trị tài sản trộm cắp là 96.920.000đ. Cấp sơ thẩm tuyên b bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định khoản 2 Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1999 là có căn cứ.
[2] Xét kháng cáo của bị hại ông C, đ i chiếu với tài liệu chứng cứ thể hiện: Bị hại ông C cho rằng bị cáo T trộm cắp của bị hại s tiền 119.000.000đ chứ không phải s tiền 73.000.000đ như bản n sơ thẩm quy kết. Bởi lẽ, ngay từ khi sự việc xảy ra, bị hại đã trình bày, khai báo s tiền bị mất rất cụ thể về từng mệnh giá của s tiền bị mất; sau khi trộm được s tiền 119.000.000đ, có thể bị c o làm rơi “khi bị cáo trèo qua cây nhãn xu ng đất, trèo qua hàng rào ra ngoài” hoặc có thể “bị c o đi xe taxi về nhà nghỉ bị rơi mất”. Tuy nhiên, qu trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm; bị cáo chỉ thừa nhận trộm cắp của bị hại ông C s tiền 73.000.000đ; trong khi đó Cơ quan Điều tra không chứng minh được bị cáo trộm cắp của bị hại s tiền 119.000.000đ như bị hại đã khai báo. Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát truy t bị cáo T trộm cắp của bị hại s tiền 73.000.000đ là có căn cứ, nên kháng cáo của bị hại ông C là không có căn cứ, nên không được chấp nhận; cần giữ nguyên bản n sơ thẩm về bồi thường thiệt hại là phù hợp.
- Bị hại kháng cáo cho rằng bị hại không phải chịu án phí dân sự, trong khi đó bản n sơ thẩm buộc bị hại chịu n phí 2.300.000đ (46.000.000đ x 5%) là không đúng. Đ i chiếu điểm e khoản 1 Điều 23 NQ s 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, tài liệu hồ sơ vụ án thể hiện bị hại ông Ca yêu cầu bị cáo bồi thường s tiền 119.000.000đ; trong khi đó bị cáo chỉ thừa nhận trộm s tiền 73.000.000đ; Cơ quan điều tra chỉ chứng minh bị cáo trộm của bị hại s tiền 73.000.000đ và buộc bị cáo bồi thường. Mặc dù đã giải thích nhưng bị hại ông C vẫn yêu cầu bị cáo bồi thường 119.000.000đ, nên bị hại phải chịu án phí phần không được chấp nhận là đúng quy định pháp luật. Do vậy, không chấp nhận kháng cáo của bị hại ông C, cần giữ nguyên bản n sơ thẩm về án phí.
[3] Về án phí sơ thẩm: Do kh ng c o không được chấp nhận, nên bị hại còn phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định điểm e khoản 2 Điều 23 NQ s 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾ ỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật T tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của bị hại ông Đoàn Văn C, giữ nguyên bản n sơ thẩm, Xử:
1. Tuyên b bị c o Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ điểm c, điểm e khoản 2 Điều 138; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 của ộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết s 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Qu c hội.
Xử phạt bị c o Nguyễn Văn T 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28-9-2017.
Về tr ch nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 42 ộ luật Hình sự năm 1999; các Điều 584, 585, 586, 589 của ộ luật Dân sự. uộc bị c o Nguyễn Văn T bồi thường cho Văn phòng Huyện ủy D s tiền 12.405.000đ; bồi thường cho ông Hồ Sỹ H s tiền 400.000đ; bồi thường cho ông Doãn Đức Th s tiền 1.500.000đ; bồi thường cho Tòa n nhân dân huyện G, tỉnh Nam Định s tiền 497.000đ; bồi thường cho ông Đoàn Văn C s tiền 73.000.000đ
- Không chấp nhận một phần yêu cầu của bị hại ông Đoàn Văn C về s tiền 46.000.000đ.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật T tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo bị cáo Nguyễn Văn T không phải chịu n phí hình sự phúc thẩm. ị hại ông Đoàn Văn C phải chịu 300.000đ n phí dân sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản n sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - TAND huyện Di Linh; - VKSND huyện Di Linh; - Cơ quan CSĐT Công an huyện Di Linh; - Chị cục THSDS huyện Di Linh; - Sở Tư ph p tỉnh Lâm Đồng; - Phòng KTNV; - Bị cáo; Bị hại (để thi hành) - Lưu hồ sơ vụ án. À Ê É Ử à g ị i ươ g - guyễ ă P CÁC THẨM PHÁN Hoàng Thị i ươ g Huỳ ơi : . - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - Phòng KTNV&THA (1) - TA huyện Lạc Dương (02) - VKS huyện Lạc Dương (1) - Công an huyện Lạc Dương (1) - Sở Tư ph p tỉnh Lâm Đồng (1) - Chi cục THADS Lạc Dương (1) - C c bị c o (để thi hành) - Lưu hồ sơ; Án văn U nội dung vụ án được tóm tắt như sau: | . É Ử P Ú Ẩ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễ Kim ồng Ẩ P – Ủ Ọ P Ê guyễ Kim ồ g CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ă iệp Nguyễ Kim ồng É Ử P Ú Ẩ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa guyễ Kim ồ g BÁO CÁO ( ụ á guyễ ă “tr m ắ tài sả ”) Ụ Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, |