- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Ngọc H - Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bị cáo Huỳnh Ngọc H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2026/HS-ST Ngày 16-4-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Luân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Hồng
2. Bà Đàm Thị Thanh Loan
- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Huệ Chi – Thư ký viên Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tại - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Cần Thơ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2026/TLST-HS ngày 29 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2026/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:
Họ và tên: Huỳnh Ngọc H, sinh ngày 14/10/1992; nơi sinh: tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Khóm X, phường L, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Không có; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn H1 và bà Hồ Mỹ N; chồng: Lê Thanh T, sinh năm: 1992 (đã ly hôn) và 01 (một) người con, sinh năm: 2013; tiền án: Không có; tiền sự: Không có; nhân thân: Tốt.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ ngày 04/10/2025, sau đó bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam cho đến nay (Bị cáo có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào sáng ngày 30/11/2023, do phát hiện Phan Ngọc H2 bị “ảo giác” từ sử dụng chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (cũ) mời H2 về trụ sở làm việc, đồng thời tiến hành kiểm tra Phòng số 19 nhà trọ của bà Tô Thị M tại Khóm C, Phường A, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (nay là Khu V, phường N, thành phố Cần Thơ) do H2 thuê thì phát hiện Huỳnh Ngọc H có biểu hiện đã sử dụng trái phép chất ma túy, qua kiểm tra phát hiện thu giữ ống thủy tinh (nỏ) bên trong có chứa chất rắn màu nâu và cùng một số vật chứng khác có liên quan nên H2 và H bị dẫn giải về Cơ quan cảnh sát điều tra Công an làm việc, H đã khai nhận: Giữa H và H2 có quen biết nhau nên vào khoảng 15 giờ ngày 29/11/2023, H2 gọi điện thoại rủ H đến phòng trọ của H2 chơi, lúc này H2 hỏi H “Có sẵn nỏ đó không?” thì H trả lời không có và cũng không biết chỗ để mua, nhưng sau đó H nhớ tại khu vực bãi rác phía sau nhà trọ của H có người bỏ nỏ thủy tinh nên đi ra phía sau tìm nhặt được 02 (hai) nỏ thủy tinh và lấy mang theo. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, H đến phòng trọ của H2, lấy nỏ thủy tinh ra đưa cho H2 thì phát hiện có 01 nỏ thủy tinh bị bể, 01 cái nỏ thủy tinh còn sử dụng được, H2 lấy nỏ thủy tinh rồi đem vào nhà vệ sinh làm dụng cụ sử dụng ma túy (gắn vào chai nhựa bên trong có chứa nước, nắp có khoét lỗ sử dụng ma túy), sau khi làm xong, H2 đổ ma túy đá vào, rồi lấy hộp quẹt gas đốt nóng nỏ thủy tinh có chứa ma túy để H2 và H cùng nhau hút đến hết. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, H kêu H2 chở đi kiếm gì ăn thì H2 điều khiển xe mô tô biển số 59D1-176.85 chở H đi xung quanh khu vực thị xã N cũ, sau đó đi qua khu vực Xóm C thuộc Khóm A, Phường A, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (nay là Khu V, phường N, thành phố Cần Thơ) liên hệ với người tên “Cà Chua” nhận gói ma túy để khấu trừ số tiền 200.000 đồng đã gửi cho “Cà Chua” trước đó, rồi H2 điều khiển xe chở H về nhà trọ, tại đây H2 cùng với H tiếp tục lấy gói ma túy đổ vào ống thủy tinh (nỏ) rồi cùng nhau sử dụng.
Tại bản Kết luận giám định số 206/KLMT-KTHS ngày 07/12/2023 của Phòng K, Công an tỉnh S (cũ), kết luận: Mẫu chất rắn màu nâu được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1166 gam, loại Methamphetamine;
Ngày 20/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N, tỉnh Sóc Trăng đã ra Quyết định khởi tố bị can đối với Huỳnh Ngọc H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự, đồng thời ra Lệnh bắt bị can để tạm giam, nhưng Huỳnh Ngọc H đã bỏ trốn nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N đã ra Quyết định truy nã đối với Huỳnh Ngọc H vào ngày 25/6/2024. Đến ngày 03/10/2025, Huỳnh Ngọc H bị bắt theo lệnh truy nã.
Về vật chứng vụ án: Đối với các vật chứng đã thu giữ có liên quan trực tiếp đến vụ án gồm: 01 ống thủy tinh dài 20cm, đường kính 0,6cm có một đầu hình phểu tròn đường kính 1,5cm và 0,0661 gam mẫu chất rắn màu nâu (chứa trong phong bì màu trắng niêm phong ghi vụ số 206/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N đã được xem xét xử lý theo Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 29/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm và Biên bản tiêu hủy vật chứng tài sản ngày 14/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ngã Năm. Đối với chiếc xe mô tô hiệu HONDA số loại AIRBLADE, biển số 59D1-176.85, qua tra cứu nguồn gốc xe xác định ông Mã Quốc C, sinh năm 1980, nơi ở: (nhà không số), hẻm D, khu phố P, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu, xe này bị trộm cắp nhưng Cơ quan điều tra xác định H không có liên quan nên chiếc xe đã được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại bản Cáo trạng số 08/CT-VKSKV7 ngày 28/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Cần Thơ truy tố bị cáo Huỳnh Ngọc H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Ngọc H đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Cần Thơ giữ nguyên Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bị cáo Huỳnh Ngọc H phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự tuyên phạt bị cáo H từ 07 (Bảy) năm đến 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù. Riêng đối với Phan Ngọc H2 đã được xử tại Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2024/HS-ST ngày 29/8/2024 về các tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; bà Tô Thị M đã bị xử phạt vi phạm hành chính nên không đặt ra xem xét. Về vật chứng vụ án đã được xem xét xử lý theo Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 29/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm nên không đặt ra xem xét. Về án phí bị cáo Huỳnh Ngọc H là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Trong phần nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, các bị cáo Huỳnh Ngọc H xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cũng như các chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra, truy tố. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện bảo đảm tuân thủ đúng theo quy định pháp luật về tố tụng.
Về nội dung vụ án, trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Ngọc H đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của bị cáo. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án nên có cơ sở xác định: Vào ngày 29/11/2023, bị cáo Huỳnh Ngọc H mang theo cái nỏ sử dụng ma túy đến Phòng trọ số 19 nhà trọ của bà Tô Thị M thuộc Khóm C, Phường A, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (nay là Khu vực 3, phưởng N, thành phố Cần Thơ) đưa Phan Ngọc H2 làm dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy. Sau đó, H cùng với H2 sử dụng trái phép chất ma túy nhiều lần tại Phòng trọ số 19. Như vậy, hành vi chuẩn bị dụng cụ cho H2 và bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy nhiều lần của bị cáo Huỳnh Ngọc H đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Từ đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Cần Thơ truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt là có căn cứ, đúng người, đúng tội nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với Phan Ngọc H2 đã được xét xử tại Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2024/HS-ST ngày 29/8/2024 về các tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; bà Tô Thị M đã bị xử phạt vi phạm hành chính cùng với quá trình xử lý Phan Ngọc H2 nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trong vụ án này.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Xét hành vi của bị cáo Huỳnh Ngọc H đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về việc sử dụng các chất ma túy. Theo đó, bị cáo H là người có đủ năng lực để nhận thức được hành vi chuẩn bị dụng cụ để tổ chức sử dụng các chất ma túy là trái pháp luật, bị cáo cũng thấy được các tác hại của việc sử dụng trái phép chất ma túy nhưng vì muốn thỏa mãn nhu cầu của bản thân và bạn bè nên bị cáo đã bất chấp và cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo không chỉ làm ảnh hưởng cho bản thân của bị cáo mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân có thể dẫn đến nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác tại địa phương. Do đó, nhằm giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung nên cần phải xem xét áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc và tương ứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy, trong vụ án này bị cáo Huỳnh Ngọc H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, trước khi phạm tội không có tiền án, tiền sự nhưng quá trình điều tra bị cáo đã bỏ trốn. Tuy nhiên, kể từ khi bị bắt thì trong quá trình điều tra, truy tố và tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội, bị cáo có trình độ học vấn thấp nhận thức pháp luật hạn chế đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị áp dụng các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ cho bị cáo khi xem xét quyết định hình phạt là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về hình phạt: Như đã nhận định hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm đã để lại hậu quả xấu trong xã hội nên sau khi xem xét xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo vừa là người thực hành, vừa là người giúp sức, đồng thời, xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc là tù có thời hạn để cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục và răn đe đối với bị cáo, đồng thời, có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung cho toàn xã hội. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị áp dụng Điều 17; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để tuyên phạt bị cáo Huỳnh Ngọc H từ 07 (B) năm đến 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về xử lý vật chứng: Đối với các vật chứng đã thu giữ gồm: 01 ống thủy tinh dài 20cm, đường kính 0,6cm có một đầu hình phểu tròn đường kính 1,5cm và 0,0661 gam mẫu chất rắn màu nâu (chứa trong phong bì màu trắng niêm phong ghi vụ số 206/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N đã được xem xét xử lý theo Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 29/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm. Riêng đối với xe mô tô hiệu HONDA hiệu AIRBLADE, biển số 59D1-176.85 đã được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh để giải quyết theo thẩm quyền nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Huỳnh Ngọc H là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bị cáo Huỳnh Ngọc H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc H 07 (B) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/10/2025.
Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Huỳnh Ngọc H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND Khu vực 7 – Cần Thơ; - VKSND thành phố Cần Thơ; - TAND thành phố Cần Thơ; - Phòng HSNV-Công an thành phố Cần Thơ; - CQTHAHS-Công an thành phố Cần Thơ; - THADS thành phố Cần Thơ; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Minh Luân |