- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung T, phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ___________________ Bản án số: 26 /2025/HS-ST Ngày: 09 - 4 - 2025 |
NHÂN DA
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Diệp Hồng Tân
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lữ Khắc Hồi
Ông Đỗ Văn Chúc
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huê, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Lôi Vĩnh Trí, Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2025/TLST-HS, ngày 07 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2025/QĐXXST-HS, ngày 21 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Trung T, sinh ngày 27/6/2001, tại Trà Vinh; nơi cư trú ấp Trà Đét, xã Nguyệt Hóa, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp không; trình độ văn hóa 7/12; dân tộc Kinh; giới tính nam; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1980 và bà Quách Thị T, sinh năm 1981; vợ chưa có; A chị em ruột 01 người, sinh năm 2006; tiền án không; tiền sự không.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 31/8/2024 đến ngày 09/9/2024 chuyển sang tạm giam đến nay (Bị cáo có mặt).
Người làm chứng:
A Nguyễn Văn D, sinh ngày 29/11/1998
Nơi cư trú: ấp Hương Phụ C, xã Đa Lộc, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
Chị Huỳnh Trần Lệ A, sinh ngày 19/9/2001
Nơi cư trú: Khóm 4, thị trấn Càng Long, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ, ngày 28/8/2024, Nguyễn Trung T cùng với Huỳnh Trần Lệ A đang ở tại nhà thuộc ấp Trà Đét, xã Nguyệt Hóa, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Do có nhu cầu sử dụng chất ma túy, Nguyễn Trung T gọi điện thoại cho người thA niên tên A Ba hỏi mua chất ma túy 200.000 đồng, A Ba đồng ý và hẹn giao ma túy cho Nguyễn Trung T gần cửa hàng vật liệu xây dựng Thành U thuộc ấp Cổ Tháp A, xã Nguyệt Hóa, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Sau khi thỏa thuận Nguyễn Trung T điều khiển xe mô tô đến điểm hẹn nhận ma túy đem về nhà rồi lấy dụng cụ sử dụng chất ma túy để ở nhà sau ra bỏ ma túy vào nấu, khi chất ma túy tan chảy Nguyễn Trung T sử dụng trước, Huỳnh Trần Lệ A sử dụng sau. Khoảng gần 30 phU sau Nguyễn Văn D bạn của T ở ấp Hương Phụ C, xã Đa Lộc, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh đến chơi phát hiện Nguyễn Trung T, Huỳnh Trần Lệ A đang sử dụng chất ma túy, D xin chất ma túy sử dụng thì Nguyễn Trung T đồng ý. Sau khi sử dụng xong D đi về nhà, còn T và Lệ A tiếp tục sử dụng chất ma túy, khi sử dụng xong T đem dụng cụ sử dụng chất ma túy cất giấu thì bị lực lượng Công an Thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh khám xét thu giữ bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy.
Tại biên bản giám định số: 458/KL-KTHS ngày 06/9/2024, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh, kết luận:
Tinh thể màu nâu chứa trong 01 đoạn thủy tinh được niêm phong gửi giám định là chất ma túy loại Methamphetamine, khối lương 0,344 gam.
Về tang vật chứng: Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an thành phố Trà Vinh ra thu giữ gồm: 01 bịch nylon màu cam có chứa 01 chai nhựa trong suốt, nắp màu đỏ, trên nắp có 02 lổ, một lổ gắn ống nhựa màu cam, một lổ gắn 01 đoạn thủy tinh không rõ hình dạng bên trong có chứa chất màu nâu nghi là chất ma túy, 01 đoạn ông nhựa màu trắng, 01 đoạn ống nhựa màu cam, 01 đoạn ông nhựa màu xA, 01 đoạn ống nhựa màu đỏ đều có chiều dài 26 cm.
Theo bản Cáo trạng số: 19/CT-VKS.HS, ngày 07/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố bị cáo Nguyễn Trung T, về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Sau khi phân tích tính chất nội dung vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Trung T và đưa ra những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, Vị đã khẳng định bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố bị cáo Nguyễn Trung T, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là có căn cứ đúng pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T từ 07 đến 08 năm tù
Thời hạn tù tính từ ngày 31/8/2024.
Bị cáo Nguyễn Trung T phải chấp hành 02 năm tù của bản án hình sự sơ thẩm số: 116/2024/HSST, ngày 18/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh.
Căn cứ Điều 56 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt chung của 02 bản án bị cáo phải chấp hành từ 09 đến 10 năm tù.
Về tang vật: Tịch thu tiêu hủy 01 đoạn thủy tinh được niêm phong gửi giám định là chất ma túy loại Methamphetamine, khối lương 0,344 gam. 01 bịch nylon màu cam có chứa 01 chai nhựa trong suốt, nắp màu đỏ, trên nắp có 02 lổ, một lổ gắn ống nhựa màu cam, một lổ gắn 01 đoạn thủy tinh không rõ hình dạng bên trong có chứa chất màu nâu nghi là chất ma túy, 01 đoạn ông nhựa màu trắng, 01 đoạn ống nhựa màu cam, 01 đoạn ống nhựa màu xA, 01 đoạn ống nhựa màu đỏ đều có chiều dài 26 cm.
Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Trung T: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trA tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Cơ quan Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền về trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trung T không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp, đúng quy định pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Trung T khai nhận, khoảng 14 giờ, ngày 28/8/2024, bị cáo gọi điện thoại cho người thA niên tên A Ba để mua chất ma túy 200.000 đồng, A Ba đồng ý và hẹn giao ma túy cho bị cáo gần cửa hàng vật liệu xây dựng Thành U. Khi nhận chất ma túy xong đem về nhà bị cáo bỏ chất ma túy vào dụng cụ nấu khi ma túy tan chảy lấy ra sử dụng cùng với Huỳnh Trần Lệ A. Khoảng gần 30 phU sau Nguyễn Văn D đến nhà bị cáo chơi phát hiện bị cáo và Huỳnh Trần Lệ A sử dụng chất ma túy, D hỏi xin một phần chất ma túy để sử dụng, bị cáo đồng ý. Khi sử dụng chất ma túy xong D đi về nhà, còn bị cáo, Huỳnh Trần Lệ A tiếp tục sử dụng chất ma tuy thì bị lực lượng Công an Thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh khám xét khẩn cấp.
Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Trung T là phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, tang vật chứng thu hồi được, phù hợp với lời khai ban đầu Điều tra. Xét có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Trung T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung 2017). Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Trung T không có thay đổi, bổ sung, sửa chữa gì thêm so với lời khai ban đầu tại cơ quan điều tra.
Xét bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố bị cáo Nguyễn Trung T, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là đúng quy định pháp luật.
Tính chất vụ án là nghiêm trọng, ma túy là một tệ nạn xã hội được pháp luật nghiêm cấm sử dụng, lưu hành với mọi hình thức, bị cáo đã nhận biết điều đó, nhưng do bản chất lười lao động thích giao du tụ tập với bạn bè ăn chơi sa đọa từ đó dẫn đến bị cáo trở thành con nghiện, để thỏa mãn cho nhu cầu cá nhân bị cáo bất chấp pháp luật sẵn sàng lao vào con đường phạm tội, thông qua hình thức mua một lượng chất ma túy về tổ chức cho nhiều người sử dụng.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không chỉ xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, mà còn gây xôn xao trong dư luận quần chúng làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự an toàn xã hội ở địa phương và đây cũng nguyên nhân dẫn đến một số loại tội phạm khác. Hội đồng xử án xét thấy cần có mức án thật nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đảm bảo cho việc cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội.
Tuy nhiên cũng cần xem xét, sau khi phạm tội bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là bộ đội phục viên và thuộc diện gia đình chính sách nên xem đây là tình tiết giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tang vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 đoạn thủy tinh được niêm phong gửi giám định là chất ma túy loại Methamphetamine, khối lương 0,344 gam. 01 bịch nylon màu cam có chứa 01 chai nhựa trong suốt, nắp màu đỏ, trên nắp có 02 lổ, một lổ gắn ống nhựa màu cam, một lổ gắn 01 đoạn thủy tinh không rõ hình dạng bên trong có chứa chất màu nâu nghi là chất ma túy, 01 đoạn ống nhựa màu trắng, 01 đoạn ống nhựa màu cam, 01 đoạn ông nhựa màu xA, 01 đoạn ống nhựa màu đỏ đều có chiều dài 26 cm.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với nội dung vụ án, phù hợp với quy định của pháp luật, có căn cứ chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Trung T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bởi các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung T, phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 255, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T 07 (bảy) năm tù.
Ngoài ra bị cáo Nguyễn Trung T còn phải chấp hành hình phạt 02 năm tù của bản án hình sự sơ thẩm số: 116/2024/HSST, ngày 18/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ Điều 56 Bộ luật hình sự. Tổng hợp hình phạt chung của hai bản án bị cáo Nguyễn Trung T phải chấp hành 09 năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 31/8/2024
Về tang vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 đoạn thủy tinh được niêm phong gửi giám định là chất ma túy loại Methamphetamine, khối lương 0,344 gam, 01 bịch nylon màu cam có chứa 01 chai nhựa trong suốt, nắp màu đỏ, trên nắp có 02 lổ, một lổ gắn ống nhựa màu cam, một lổ gắn 01 đoạn thủy tinh không rõ hình dạng bên trong có chứa chất màu nâu nghi là chất ma túy, 01 đoạn ống nhựa màu trắng, 01 đoạn ống nhựa màu cam, 01 đoạn ống nhựa màu xA, 01 đoạn ống nhựa màu đỏ có chiều dài 26 cm.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Trung T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án sơ thẩm xét xử công khai, báo cho bị cáo Nguyễn Trung T biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để xin Tòa án cấp trên xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Trà Vinh; -Sở Tư pháp tỉnh Trà Vinh; -VKSND huyện Châu Thành; -Công an huyện Châu Thành; -THADS huyện Châu Thành; -Bị cáo; -Lưu hồ sơ. | Diệp Hồng Tân |