- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Ngọc L xin ly hôn ông Nguyễn Trường H"
- Tòa quyết gì? 1 - Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Ngọc L và ông Nguyễn Trường H.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố; Điều 17 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2025/HNGĐ-ST Ngày: 20 – 01 – 2025 V/v “Tranh chấp của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hứa Minh Hải
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đỗ Mỹ Lil
2. Bà Nguyễn Kim Lên
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Tuyết Ngân, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Ngày 20 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 686/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 513/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc L, sinh năm: 1978 (xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp 2, xã K.B.Đ, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Trường H, sinh năm: 1974 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp 2, xã K.B.Đ, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 01/11/2024 và biên bản xin giải quyết vắng mặt ngày 06/12/2024, bà Nguyễn Ngọc L trình bày quan điểm và yêu cầu như sau:
- Về hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Trường H chung sống với nhau như vợ, chồng từ năm 2006, có tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán nhưng không đăng ký kết hôn theo luật định. Trong quá trình chung sống thời gian đầu có hạnh phúc, về sau lại phát sinh nhiều mâu thuẫn, bà và ông H luôn bất đồng quan điểm, thường xuyên cải vả, không thể hòa hợp được với nhau. Trên thực tế bà và ông H không còn chung sống như vợ chồng hơn một năm qua.
Từ nội dung trên, bà nhận thấy tình cảm của bà và ông H không còn, không thể hàn gắn để tiếp tục chung sống và duy trì mối quan hệ vợ, chồng được nữa nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được chấm dứt quan hệ vợ, chồng với ông Nguyễn Trường H.
- Về con chung: Bà L xác định giữa bà và ông H có 02 người con chung là Nguyễn Thị Thu H1, sinh ngày 17/11/2007; Nguyễn Thị Thu H2, sinh ngày 10/9/2009. Hiện cháu H1đã có gia đình và sống ở Đồng Nai, còn cháu H2 cũng theo cháu H1ở Đồng Nai đi làm. Do đó, khi ly hôn, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con, không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Bà L xác định giữa bà và ông H không có tài sản chung.
- Về nợ chung: Bà L khai nhận giữa bà và ông H không có nợ chung và không ai nợ lại ông, bà.
* Đối với ông Nguyễn Trường H vắng mặt không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Về tố tụng dân sự: Về loại việc và thẩm quyền của Toà án: Tranh chấp giữa bà Nguyễn Ngọc L và ông Nguyễn Trường H là “Tranh chấp của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn” nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân được quy định tại khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Đối với việc vắng mặt của ông Nguyễn Trường H: Mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần đến tham gia phiên toà để xét xử vụ án, thông qua thủ tục niêm yết công khai các văn bản tố tụng nhưng ông H vẫn không có ý kiến phản hồi, đồng thời cũng không có mặt tại phiên toà để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông H theo luật định. Đối với việc đề nghị vắng mặt của bà Nguyễn Ngọc L, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà L theo luật định.
Về quan hệ hôn nhân: Trên thực tế, bà Nguyễn Ngọc L và ông Nguyễn Trường H có tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán, có chung sống với nhau như vợ, chồng từ năm 2006 đến 2023. Theo bà L trình bày, giữa bà và ông H không đăng ký kết hôn, đồng thời xác nhận của cơ quan có thẩm quyền thì bà L và ông H không có đăng ký kết hôn. Do đó, quan hệ hôn nhân của bà L và ông H đã vi phạm về đăng ký kết hôn được quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình. Cho nên việc kết hôn là không thỏa mãn về mặt hình thức, nay bà L có yêu cầu chấm dứt quan hệ hôn nhân do có nhiều mâu thuẫn, về mục đích hôn nhân không đạt. Bởi lẽ, trong thời gian chung sống, bà L và ông H luôn bất đồng quan điểm trong sinh hoạt gia đình và thường xuyên cải vã, gây bất hòa với nhau mà không bên nào có biện pháp gì để khắc phục tình trạng mâu thuẫn. Bên cạnh đó, bà L xác định tình cảm vợ, chồng giữa bà và ông H không còn nên ông, bà đã tự ly thân hơn một năm qua.
Theo tinh thần tại điểm b khoản 3 của Nghị quyết 35 của Quốc hội quy định: Kể từ ngày 01/01/2001 trở đi, nam và nữ chung sống với nhau như vợ, chồng mà không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật công nhận là vợ, chồng; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì Tòa án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết. Mặt khác, căn cứ khoản 4 Điều 3 của Thông tư liên tịch số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp thì trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ, chồng mà không có đăng ký kết hôn (không phân biệt có vi phạm điều kiện kết hôn hay không) và có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý giải quyết và áp dụng Điều 9 và Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa họ. Nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con ... thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 của Luật hôn nhân và gia đình.
Xét mâu thuẫn thực tế của bà L và ông H đến mức trầm trọng, đời sống chung hiện tại cũng không còn nên mục đích hôn nhân không đạt được, đồng thời hôn nhân có vi phạm về mặt hình thức nên không được công nhận là vợ, chồng.
Về con chung: Xét thấy cháu Nguyễn Thị Thu H1, sinh ngày 17/11/2007 tuy đã có chồng và sống riêng nhưng vẫn chưa thành niên nên vẫn xem xét trách nhiệm nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo luật định; cháu Nguyễn Thị Thu H2, sinh ngày 10/9/2009 hiện sống cùng cháu H1và đi làm nhưng vẫn chưa thành niên. Do đó giao cháu H1và cháu H2 cho bà L tiếp tục chăm, sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, bà L không đặt ra yêu cầu nên không xem xét.
Về tài sản chung: Bà L xác định giữa bà và ông H không có tài sản chung nên không đặt ra xem xét.
Về nợ chung: Bà L khai nhận giữa bà và ông H không có nợ chung và không ai nợ lại ông, bà nên không đề cập giải quyết.
Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Bà L là nguyên đơn nên bà phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: bà L và ông H được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 9, Điều 14, Điều 15 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ khoản 4 Điều 3 của Thông tư liên tịch số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1 - Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Ngọc L và ông Nguyễn Trường H.
2 - Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Thu Hà, sinh ngày 17/11/2007 và cháu Nguyễn Thị Thu H2, sinh ngày 10/9/2009 cho bà Nguyễn Ngọc L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giao dục; không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Ông Nguyễn Trường H không trực tiếp nuôi con vẫn được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở.
3 - Về tài sản chung: Bà L xác định không có.
4 - Về nợ chung: Bà L xác định không có.
5 - Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Bà Nguyễn Ngọc L phải chịu 300.000đ, ngày 11 tháng 11 năm 2024, bà L đã nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 300.000đ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T theo biên lai số: 5883 được đối trừ chuyển thu.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6 - Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Ngọc L và ông Nguyễn Trường H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện T; - CCTHADS huyện T; - Các đương sự (để thi hành); - Lưu: Hồ sơ, Văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hứa Minh Hải |