vanban.org

Bản án 26/2025/HNGĐ-ST — Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xử: Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị L ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam — án dân sự — "Xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2025/HNGĐ - ST
Ngày 09/9/2025
Về việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - NGHỆ AN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Huy.

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Hoè và ông Hồ Văn Hữu

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Duyên, thư ký Toà án nhân dân khu vực 4 - Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Văn Thị Thu Hường, chức vụ: Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 9 năm 2025 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 4 – Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 21/2025/TLST- HN&GĐ ngày 14 tháng 7 năm 2025 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2025/QĐST-HN&GĐ ngày 11 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 24/2025/QĐST-HN&GĐ ngày 26 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1996 (Có mặt).

Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx.

Địa chỉ: Khối C, phường T (xã Q cũ), tỉnh Nghệ An.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1987 (Có mặt).

Địa chỉ: Khối C, phường T (xã Q cũ), tỉnh Nghệ An.

Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên toà nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 04/10/2019 tại UBND xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An (Nay là UBND phường T, tỉnh Nghệ An). Sau khi kết hôn, chị và anh T chung sống với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh Thông thường X chửi bới, xúc phạm, đánh đập chị nhiều lần. Anh T không quan tâm, chia sẽ, tôn trọng chị trong gia đình. Hiện nay, chị và anh T đã sống ly thân, không còn tình cảm gì với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

Về con: Chị và anh Nguyễn Văn T không có con chung. Không ai nhận nuôi con nuôi, không ai có con riêng. Hiện nay, chị không mang thai.

Về tài sản chung, riêng và nợ: Chị và anh Nguyễn Văn T thỏa thuận tự phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải và tại phiên toà bị đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:

Về hôn nhân: Anh đồng ý như nội dung trình bày của chị L về thời gian, địa điểm, điều kiện kết hôn nói trên. Về mâu thuẫn vợ chồng thì anh và chị L chỉ có mâu thuẫn nhỏ nhặt trong gia đình. Chị L đang còn trẻ nên không biết đối nhân xử thế trong gia đình, suy nghĩ không chín chắn. Anh cũng đã khuyên bảo, góp ý cho chị L nhiều lần nhưng vẫn không được. Hiện nay, anh vẫn còn tình cảm, vẫn yêu thương chị L nên anh không đồng ý ly hôn với chị L. Anh đề nghị Toà án hoà giải cho anh và chị L quay về đoàn tụ với nhau để vợ chồng cùng nhau sữa chữa sai lầm của mình, xây dựng lại hạnh phúc gia đình, phát triển kinh tế.

Về con: Anh và chị L không có con chung. Không ai nhận nuôi con nuôi, không ai có con riêng. Hiện nay, chị L không mang thai.

Về tài sản chung, riêng và nợ: Anh và chị L tự thoả thuận với nhau không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân khu vực 4 - Nghệ An phát biểu ý kiến như sau:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thư ký: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, thư ký đã tuân thủ theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.

- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.

- Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quy định Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về quyền và nghĩa vụ của đương sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị :

- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

- Về con chung: Chị L và anh T chưa có con chung, không có con riêng, không nhận nuôi con nuôi nên đề nghị không xem xét.

- Về tài sản chung, riêng và nợ: Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Văn T tự thỏa thuận phân chia không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét.

- Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa nguyên đơn chị Nguyễn Thị L và bị đơn anh Nguyễn Văn T. Bị đơn anh Nguyễn Văn T đang sinh sống và có hộ khẩu thường trú tại khối C, phường T (xã Q cũ), tỉnh Nghệ An nên Tòa án nhân dân khu vực 4 - Nghệ An thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 39 BLTTDS.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Văn T kết hôn với nhau vào ngày 04/10/2019 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An (nay là UBND phường T, tỉnh Nghệ An) trên cơ sở tự nguyện. Đây là hôn nhân hợp pháp tuân thủ các điều kiện kết hôn theo luật định. Sau khi kết hôn, cuộc sống giữa chị L và anh T đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do chị L và anh T bất đồng quan điểm sống với nhau, anh T có chửi bới, đánh đập chị L nhiều lần. Anh T không quan tâm, chia sẽ, tôn trọng chị L. Từ tháng 4/2025 đến nay, chị L và anh T đã sống ly thân với nhau, hai bên không còn liên lạc, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Ngoài ra, qua xác minh tại khối C, phường T, ban cán sự khối cung cấp thông tin: Quá trình chị L và anh T chung sống với nhau tại địa phương hai bên thường xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Anh T có đánh đập chị L nhiều lần. Ban cán sự khối 3B và Ban hoà giải của Giáo xứ D cũng đã đến gia đình anh T, chị L khuyên bàn, hoà giải nhiều lần để vợ chồng đoàn tụ với nhau nhưng hai bên vẫn không hàn gắn được tình cảm. Toà án cũng hoà giải nhiều lần cho chị L và anh T nhưng cũng không có kết quả. Điều đó chứng tỏ tình cảm giữa chị L và anh T không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị L yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Văn T là có cơ sở chấp nhận. Do đó cần áp dụng điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Nguyễn Thị L ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Văn T chưa có con chung, không có con riêng, không ai nhận nuôi con nuôi nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Về tài sản chung, riêng và nợ: Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Văn T tự thỏa thuận phân chia không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

Về kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Nghệ An về việc giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật. Nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên.

QUYẾTỊNH:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xử:

- Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị L ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

- Về con: Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Văn T chưa có con chung, không ai có con riêng, không ai nhận nuôi con nuôi.

- Về tài sản chung, riêng và nợ: Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Văn T tự thỏa thuận phân chia không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp tại Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tiền số 0004142 ngày 11/7/2025.

- Về kháng cáo: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị L, bị đơn anh Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ