- Tranh chấp gì? án hình sự — "trôm cắp TS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Ngọc Q.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 26/2024/HS-PT Ngày: 28 - 02 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn.
Các thẩm phán: Ông Phạm Tấn Tài;
Bà Trần Thị Thúy Hà.
Thư ký phiên toà: Bà Lê Trần Huyền Trân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Mai Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2024/TLPT- HS ngày 29 tháng 01 năm 2024. Do có kháng cáo của xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Ngọc Q đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 62/2023/HS-ST ngày 18/12/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
Theo Quy t định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐ PT-HS ngày 01 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Ngọc Q, sinh năm 1990, nơi cư trú: khóm B 01, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang; ch ở hi n nay: khóm H, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang chưa đăng ký thay đ i nơi thường trú ; nghề nghi p: Làm thuê; trình đ học vấn: 11/12; dân t c: Kinh; tôn giáo: Đạo phật; quốc tịch: Vi t Nam; con ông Trần Trọng T, sinh năm 1967, mẹ là bà Cao Thu H, sinh năm 1970; anh, em ru t: 03 người, bị cáo là người thứ nhất; vợ: Võ Thị Cẩm T1, sinh năm 2001; con: 01 người, sinh năm 2021; quá trình nhân thân: t nh sống chung với gia đình, học đ n lớp 11 thì nghỉ, sinh sống b ng nghề làm thuê; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị b t tạm gi và tạm giam t ngày 16/11/2023 cho đ n nay bị cáo có mặt tại phiên tòa phúc thẩm
Bị hại: Bà Trương Minh T2, sinh năm 1962; nơi cư trú: Ấp T, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang v ng mặt .
Người qu ền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Võ Thị Cẩm T1, sinh năm 2001; nơi cư trú: Khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang v ng mặt .
- Bà Cao Thu H, sinh năm 1970; nơi cư trú: Khóm H, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang v ng mặt .
Người làm hứng:
- Nguyễn Chí H1, sinh năm 2004 v ng mặt .
- Lê Thanh T3, sinh năm 1990 v ng mặt .
Ngày 19/12/2023, bị cáo Trần Ngọc Q kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo cáo trạng của Vi n kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên; Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên n i dung vụ án được tóm t t như sau:
Khoảng 16 giờ, ngày 15/11/2023, Trần Ngọc Q đi b t đường tỉnh l 949 hướng xã A, thị xã T đ n xã C, huy n T. Khi Q đi đ n Văn phòng ấp T, xã A, thị xã T phát hi n xe mô tô biển số 67F1-106.18 của bà Trương Minh T2 dựng trong sân trước của Văn phòng Ấ, chìa khóa còn c m trên khóa xe, không người trông gi , nên Q nảy sinh ý định lấy tr m.
Để thực hi n, Q đi vào ngồi lên xe 67F1-106.18 của bà T2, giả vờ là người dân đ n Văn phòng ấp làm giấy tờ, lợi dụng bà T2 đang nói chuy n với bà Huỳnh Thị N trong Văn phòng ấp mất cảnh giác, Quyền dùng hai chân lùi và quay đầu xe ra ngoài hướng Tỉnh l 949, bị bà T2 phát hi n la lên “Làm gì mà leo lên xe của tôi vậy” Quyền không trả lời mà bật chìa khóa xe n máy điều khiển xe chạy về hướng xã C, huy n T, bà T2 liền truy hô “Tr m xe, tr m xe”. Lúc này, anh Nguyễn Chí H1 và anh Lê Văn T4 ở gần đó nghe ti ng truy hô, nên anh H1 và anh T4 dùng xe mô tô truy đu i theo Quyền khoảng 01 km, thì anh T4 và anh H1 b t gi được Q cùng tang vật giao cho Công an xã A, chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã T xử lý.
K t luận định giá tài sản số 2157 ngày 17/11/2023 của H i đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã T, xác định: e mô tô biển số 67F1-106.18, nhãn hi u: Majesty, số loại: FT110-2, màu sơn: Đ , số khung H0A4TT165781, số máy P52FMH165781, trị giá 3.000.000 đồng. Quy t định truy tố theo thủ tục rút gọn số 04/QĐ-VKSTB-HS ngày 07/12/2023 của Vi n Kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên truy tố bị cáo Trần Ngọc Q về t i “Tr m c p tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 B luật Hình sự năm 2015 được sửa đ i, b sung năm 2017.
Bị hại bà Trương Minh T2 xác định đã nhận lại tài sản mà bị cáo đã chi m đoạt, không yêu cầu bị cáo bồi thường thi t hại, tại phiên tòa sơ thẩm bà T2 xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 62/2023/HS-ST ngày 18/12/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang tuyên bố bị cáo: Trần Ngọc Q phạm t i: “Tr m c p tài sản” căn cứ khoản 1 Điều 173; h, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 B luật Hình sự năm 2015;
ử phạt: Bị cáo Trần Ngọc Q: 06 sáu tháng tù; Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể t ngày bị b t tạm gi , tạm giam: 16/11/2023 mười sáu, tháng mười một, năm hai nghìn không trăm hai mươi ba).
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí; quyền kháng cáo cho bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án theo quy định pháp luật.
Ngày 19/12/2023 bị cáo Trần Ngọc Q kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, người bị hại, nh ng tham gia tố tụng khác trong vụ án không kháng cáo, Vi n kiểm sát không kháng nghị.
Kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm;
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Q gi nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; theo đó, bị cáo Q xác định bản án sơ thẩm xử bị cáo về t i “Tr m c p tài sản” là đúng người, đúng t i không oan, bị cáo chỉ xin giảm nhẹ hình phạt vì có con nh ; Bị cáo còn th a nhận bản thân nghi n ma túy hơn 01 năm, ngoài ra không ý ki n, yêu cầu gì khác và không cung cấp chứng cứ mới.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến.
- Về thủ tố tụng: Đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Q rõ ràng, gửi trong hạn luật định, nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
- Về n i dung: Lời khai nhận t i của bị cáo Q tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng các chứng cứ, tài li u khác có trong hồ sơ vụ án, Tòa sơ thẩm đã xem xét toàn di n chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, áp dụng đầy đủ các tình ti t giảm nhẹ cho bị cáo, bản thân bị cáo nghi n ma túy nên tuyên xử bị cáo Q 06 (sáu) tháng tù về t i “Tr m c p tài sản” là đúng người, đúng t i, đúng pháp luật, bị cáo xin giảm án nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được chứng cứ mới để được giảm nhẹ trách nhi m hình sự, nên không có căn cứ giảm án cho bị cáo. Đề nghị H i đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 B luật tố tụng hình sự năm 2015; Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Q; gi nguyên bản án sơ thẩm; bu c bị cáo chịu án phí phúc thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở xem xét toàn diện nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ vụ án; Kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tố tụng:
Đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Q trong hạn luật định, hợp l nên được xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Về quy t định, hành vi tố tụng của cơ quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng:
Trong giai đoạn điều tra và truy tố, Cơ quan điều tra Công an thị xã T, Điều tra viên,Vi n kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên, Kiểm sát viên đã thực hi n đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của B luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại không có ý ki n hoặc khi u nại về hành vi, quy t định của Cơ quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quy t định tố tụng của Cơ quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng đã thực hi n đều hợp pháp và đúng pháp luật.
Vi c v ng mặt của nh ng người tham gia tố tụng: ét thấy bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của nh ng người này phù hợp với lời khai nhận của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, vi c các đương sự này v ng mặt tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đ n vi c xét xử vụ án, khi cần thi t H i đồng xét xử sẽ công bố lời khai của họ, nên vụ án vẫn ti n hành xét xử theo thủ tục chung là phù hợp pháp luật quy định tại Điều 292, Điều 293 B luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Về nội dung:
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Q th a nhận đã lén lút lấy tài sản xe Honda của bị hại bà T2 tại trụ sở Văn phòng ấp T, xã A đúng như bản án sơ thẩm nhận định xét xử bị cáo t i “Tr m c p tài sản” là không oan; lời khai nhận t i của bị cáo Q tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra; phù hợp lời khai của bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; phù hợp với lời khai của nh ng người làm chứng; phù hợp k t luận định giá tài sản số 2157 ngày 17/11/2023 của H i đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã T, xác định: e mô tô biển số 67F1-106.18, nhãn hi u: Majesty, số loại: FT110-2, màu sơn: Đ , số khung H0A4TT165781, số máy P52FMH165781, trị giá 3.000.000 đồng, chứng cứ tại vụ án thể hi n hành vi vi c thực hi n vi c phạm t i của bị Q đó là;
Do không có tiền và không có phương ti n để đi đ n khu vực núi K gặp bạn, nên khoảng 16 giờ, ngày 15/11/2023, Trần Ngọc Q đi b t đường tỉnh l 949 hướng xã A, thị xã T đ n xã C, huy n T. Khi Q đi đ n Văn phòng ấp T, xã A, thị xã T phát hi n xe mô tô biển số 67F1-106.18 của bà Trương Minh T2 dựng trong sân trước của Văn phòng Ấ, chìa khóa còn c m trên khóa xe, không người trông gi , nên Q nảy sinh ý định lấy tr m tài sản.
Để thực hi n t i phạm, Quyền đ n ngồi trên xe 67F1-106.18 của bà T2, giả vờ là người dân đ n Văn phòng ấp làm giấy tờ, lợi dụng bà T2 đang nói chuy n với bà Huỳnh Thị N trong Văn phòng ấp mất cảnh giác, Quyền dùng hai chân lùi và quay đầu xe ra ngoài hướng Tỉnh l 949, bị bà T2 phát hi n la lên “Làm gì mà leo lên xe của tôi vậy” Quyền không trả lời mà bật chìa khóa xe n máy điều khiển xe chạy về hướng xã C, huy n T, bà T2 liền truy hô “Tr m xe, tr m xe”. Lúc này, anh Nguyễn Chí H1 và anh Lê Văn T4 ở gần đó nghe ti ng truy hô, nên anh H1 và anh T4 dùng xe mô tô truy đu i theo Quyền khoảng 01 km, thì anh T4 và anh H1 b t gi được Q cùng tang vật giao cho Công an xã A, chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã T xử lý.
Bị cáo Q là người trưởng thành, có đủ năng lực hành vi, bản thân nghi n ma túy, nhưng do lười lao đ ng lại muốn có tiền tiêu sài và xe để th a mãn nhu cầu cá nhân, bị cáo lấy tr m xe Honda của bị hại T2 là l i cố ý, bị cáo đã trực ti p xâm hại đ n quyền sở h u về tài sản hợp pháp của bà T2, giá trị tài sản bị cáo lấy tr m đủ định lượng, nên đủ y u tố cấu thành t i phạm về t i “Tr m c p tài sản”, tuy bị hại đã nhận lại tài sản và xin giảm nhẹ cho bị cáo; nhưng bị cáo Q phải chịu trách nhi m hình sự về t i “Tr m c p tài sản” theo khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 B luật Hình sự là đúng pháp luật.
Tòa sơ thẩm xem xét toàn di n chứng cứ tại hồ sơ vụ án, xem xét đầy đủ tình ti t tăng nặng; tình ti t giảm nhẹ trách nhi m hình sự, nhân thân của bị cáo nên xử phạt bị cáo Q 06 sáu tháng tù về t i “Tr m c p tài sản” theo khoản 1 Điều 173 B luật hình sự năm 2015 là đúng người, đúng t i, tương xứng với tính chất, mức đ hành vi thực hi n t i phạm của bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, nhưng bị cáo Q không cung cấp được chứng mới có giá trị chứng minh được giảm nhẹ trách nhi m hình sự theo quy định pháp luật, bản thân bị cáo nghi n ma túy, vi c ti p tục giam bị cáo giúp cho bị cáo cai nghi n tốt hơn, nên không có căn cứ pháp luật để giảm nhẹ m t phần hình phạt cho bị cáo.
Do đó, cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của B luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đ i b sung năm 2017 phúc xử: Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Q; Gi nguyên bản án sơ thẩm.
Các phần n i dung khác của bản án sơ thẩm đã tuyên không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hi u lực thi hành kể t ngày h t thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí: Bị cáo Quyền phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của B luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc h i quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án;
Phúc xử:
- Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Ngọc Q.
- Gi nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 62/2023/HS-ST ngày 18/12/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; h, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 B luật Hình sự năm 2015 sửa đ i b sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo: Trần Ngọc Q phạm t i “Tr m c p tài sản”.
Xử phạt:
- Bị cáo Trần Ngọc Q 06 sáu tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể t ngày b t b t tạm, gi , tạm giam đối với bị cáo là ngày 16/11/2023.
Căn cứ Điều 135, 136 và Điều 333 B luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc h i quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án;
- Bu c bị cáo Trần Ngọc Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bu c bị cáo Trần Ngọc Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quy t định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án hoặc bị cưỡng ch thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hi u thi hành án được thực hi n theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hi u lực pháp luật kể t ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Cấp cao tại Tp-HCM; - VKSND tỉnh An Giang; - TAND thị xã Tịnh Biên; - VKSND thị xã Tịnh Biên 2 ; - Phòng KTNV&THA tỉnh AG 1 ; - Cơ quan THA-HS Công An tỉnh; - Sở Tư pháp 1 ; - Trại tạm giam CA tỉnh AG 2 ; - Phòng hồ sơ 1 ; - Chi cục THADS thị xã Tịnh Biên 1 ; - UBND cấp xã nơi BC cư trú 2 ; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có QLNVLQ đ n vụ án; - Lưu hồ sơ vụ án; - VP tòa án tỉnh AG 1 . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Nguyễn Ngọc Tuấn |