vanban.org

Bản án 26/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 30/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

T bố: Các bị cáo Lê Đình T, Hoàng Khắc V phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Lê Đình T 12 (Mười hai ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (Ngày 01/12/2022) Hoàng Khắc V 09 (Chín ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam (Ngày 13/02/2023) Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đình T và đồng phạm phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? T bố: Các bị cáo Lê Đình T, Hoàng Khắc V phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN ND HUYỆN TRIỆU SƠN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26 /2023/HS-ST
.
Ngày 30-3 -2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN- THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Long và bà Đàm Thị Thơ

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 3 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 28/2023/HSST ngày 14 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2023 đối với các bị cáo:

Lê Đình T - Sinh năm 1987; nơi sinh: Huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Tổ dân phố X, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đình D và bà Trịnh Thị Kh; có vợ Trịnh Thị H và 03, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2022; Tiền sự: Không;

Tiền án: Ngày 16/6/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 29/2021/HSST ngày 28/9/2016). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/7/2022 và nghĩa vụ dân sự ngày 28/8/2022.

Nhân thân: Ngày 07/12/2022, bị Cơ quan điều tra Công an thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa khởi tố bị can về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323BLHS.

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/12/2022 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa, có mặt tại phiên tòa.

2. Hoàng Khắc V - Sinh năm 1986; nơi sinh: Huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Khắc Th (đã chết) và bà Lê Thị G; có vợ Bùi Thị H1 đã ly hôn, có 02 con con lớn sinh năm 2013 (ở với bố), con nhỏ sinh năm 2015 (ở với mẹ). Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 09/12/2020, bị Công an huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý bằng hình thức phạt tiền: 1.500.000đ.

Ngày 22/12/2022, bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 457/QĐ-QLNN của UBND phường 5, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị bắt tạm giam từ ngày 13/02/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa, có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Chị Lê Thị B, sinh năm 1967 Địa chỉ: Thôn X, xã V, huyện Tr, tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Bùi Thị H2, sinh năm 1967

Địa chỉ: Phố T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 29/12/2022, Lê Đình T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave RXS, màu đỏ đen, biển kiểm soát 36B1-985.61 mượn của của Vũ Trọng Hoàng đến nhà Hoàng Khắc V, rủ V đi trộm cắp tài sản để lấy tiền tiêu xài, V đồng ý. T chở V rẽ vào đường liên huyện đến đoạn xã Vân Sơn, huyện Triệu Sơn đi Xuân Du, huyện Như Thanh. Khi đi quan ngôi nhà đang thi công xây dựng của chị Lê Thị B tại Thôn X, xã V, huyện Tr, V nhìn thấy 01 chiếc máy hàn và 01 cuộn dây hàn để trước nhà. V bảo T quay xe lại. T quay xe lại trước nhà, V đi bộ vào lấy 01 máy hàn hiệu HK200Z và 01 cuộn dây hàn loại 1x25, dài 21m, màu đen mang ra để lên yên xe. T chở V cùng tài sản trộm đến nhà bà Bùi Thị H2 ở phố Tân Phong, thị trấn Triệu Sơn bán được 800.000đ, T và V đã tiêu xài cá nhân hết.

Đến ngày 01/12/2022, Lê Đình T đến nhà bà H2 chuộc lại máy hàn và cuộn dây rồi đến Công an xã Vân Sơn đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và giao nộp tài sản trộm cắp.

Đối với Hoàng Khắc V, sau khi phạm tội bỏ trốn vào Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 22/12/2022, V đang sử dụng ma tuý thì bị Công an phường 5, quận Gò Vấp bắt quả tang và đưa đi cai nghiện bắt buộc tại cơ sở xã hội Nhị Xuân, xã Xuân Thới Sơn, huyện Hốc Môn, TP Hồ Chí Minh. Ngày 13/02/2023, Công an huyện Triệu Sơn tiến hành bắt bị tạm giam đối với Hoàng Khắc V.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 373/KL-HĐ ĐGTS Ngày 12/12/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng của UBND huyện Triệu Sơn định giá số tài sản: 01 máy hàn hiệu HK200Z, màu xanh trị giá 2.400.000đ và 01 cuộn dây hàn loại 1x25, dài 21m, màu đen trị giá 1.000.000đ.

Vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả 01 máy hàn hiệu HK200Z và 01 cuộn dây hàn loại 1x25, dài 21m cho chị Lê Thị B. Chị B không yêu cầu các bị cáo bồi thường dân sự.

Xe mô tô nhãn hiệu Wave RXS, màu đỏ đen, biển kiểm soát 36B1-985.61 của ông Vũ Trọng Tuấn (bố đẻ Vũ Trọng Hoàng) ở tổ dân phố 2, thị trấn Triệu Sơn. Anh Hoàng và ông Tuấn không biết T sử dụng xe đi trộm cắp. Ông Tuấn đã lấy lại xe từ tối ngày 29/11/2022.

Bản cáo trạng số 34/CT-VKS-TS ngày 14 tháng 3 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn truy tố các bị cáo Lê Đình T, Hoàng Khắc V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX áp dụng: Khoản 1 Điều 173, điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều17, 38BLHS xử phạt bị cáo Lê Đình T từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Áp dụng: Khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều17, 38BLHS xử phạt Hoàng Khắc V từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Tại phiên tòa, các bị cáo Lê Đình T, Hoàng Khắc V khai nhận đã thực hiện hành vi như nội dung bản Cáo trạng truy tố, không có ý kiến gì tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Triệu Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[

Về sự vắng mặt của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Lê Thị B và chị Bùi Thị H2 có lời khai đầy đủ trong hồ sơ vụ án, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Xét sự vắng mặt của chị B, chị H2 không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ 292 BLTTHS, HĐXX tiếp tục tiến hành xét xử vụ án.

Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa, các bị cáo Lê Đình T, Hoàng Khắc V đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 29/12/2022, Lê Đình T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave RXS biển kiểm soát 36B1-985.61 mượn của Vũ Trọng Hoàng đến nhà Hoàng Khắc V rủ V đi trộm cắp tài sản để lấy tiền tiêu xài, thì V đồng ý. T chở V đến đoạn đường có ngôi nhà đang thi công xây dựng của chị Lê Thị B tại Thôn X, xã V, huyện Tr, V nhìn thấy 01 chiếc máy hàn và 01 cuộn dây hàn để trước nhà và bảo T quay lại. V xuống xe đi vào lấy 01 máy hàn hiệu HK200Z và 01 cuộn dây hàn loại 1x25, dài 21m, màu đen trị giá 3.400.000đ. T chở V cùng tài sản trộm cắp đến nhà chị Bùi Thị H2 ở phố Tân Phong, thị trấn Triệu Sơn bán được 800.000đ và đã tiêu xài hết. Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173BLHS. Vì vậy, Bản cáo trạng và lời luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn truy tố hành vi phạm tội của các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án, tính chất của hành vi phạm tội: Tính chất vụ án là ít nghiêm trọng. Tính chất hành vi phạm của các bị cáo Lê Đình T, Hoàng Khắc V là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an địa phương, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Trong vụ án này có nhiều bị cáo tham gia nhưng không có sự phân công chặt chẽ nên là đồng phạm giản đơn. Trong đó, Lê Đình T là người khởi xướng rủ rê nên có vai trò chính trong vụ án, Hoàng Khắc V là người thực hành tích cực có vai trò sau T.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Bị cáo Lê Đình T phải chịu tình tiết tăng nặng tái phạm quy định tại điểm khoản 1 Điều 52 BLHS. Các bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là thành khẩn khai báo quy định điểm s khoản 1 Điều 51BLHS. Bị cáo Lê Đình T áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ khắc phục hậu quả, đầu thú quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51BLHS. Bị cáo Hoàng Khắc V áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51BLHS.

Về nhân thân: Bị cáo Lê Đình T có nhân thân xấu đã nhiều lần bị kết án nhưng bị cáo không thấy đó là bài học để tu dưỡng bản thân, lại tiếp tục phạm tội khi chưa được xóa án tích. Lê Đình T, Hoàng Khắc V là đối tượng nghiện hút ma túy. Do đó, cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có khả năng cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo Lê Đình T, Hoàng Khắc V không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu bồi thường nên HĐXX không xét. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bồi thường nên HĐXX không xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, các Điều 17,58,38 Bộ luật hình sự đối với Lê Đình T và Hoàng Khắc V. Áp dụng thêm: Điểm b khoản 1và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với Lê Đình T. Áp dụng thêm: Điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với Hoàng Khắc V.

- T bố: Các bị cáo Lê Đình T, Hoàng Khắc V phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt:

Lê Đình T 12 (Mười hai ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (Ngày 01/12/2022)

Hoàng Khắc V 09 (Chín ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam (Ngày 13/02/2023)

2. Áp dụng: Khoản 2 Điều 136, các Điều 331,333,336,337 BLTTHS; Khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Về án phí: Buộc mỗi bị cáo Lê Đình T, Hoàng Khắc V phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Bị cáo được quyền kháng cáo án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày T án. Bị hại được quyền kháng cáo án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo phần phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án. Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ