vanban.org

Bản án 26/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Thới Lai, TP. Cần Thơ Tuyên án 16/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hồ Hoàng K phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Áp dụng: điểm b, khoản 1, Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 3, Điều 65 BLHS Xử phạt: Bị cáo Hồ Hoàng K 01 (một) năm tù. Nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 02 năm, giao bị cáo về Ủy ban nhân xã Đ giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách, thời gian được tính kể từ ngày tu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Buôn bán hàng cấm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hồ Hoàng K phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 190 Bộ luật Hình sự; Điều 3 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỚI LAI
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2018/HSST
Ngày: 16/10/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI-THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thu Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Hoàng Long

2. Ông Lý Hồng Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nguyễn Minh Trí – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 10 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 26/2018/HSST ngày 11 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo: Hồ Hoàng K, sinh năm 1988; Nơi cư trú: Ấp Đông Hòa, xã Đông Thuận, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Hồ Hồng P, sinh năm: 1961 (sống) và bà Trần Thị L, sinh năm: 1956 (sống); Họ tên vợ: Nguyễn Thị Cẩm L, sinh năm 1987 (sống); Có 01 đứa con sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không; (bị cáo có mặt) .

Người làm chứng:

- Anh NLC1, sinh năm 1999(vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp Đ, xã Đ, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.

- Chị NLC2, sinh năm 1987 (vắng mặt)

- Chị NLC3, sinh năm 1984 (vắng mặt)

- Anh NLC4, sinh năm 1985(vắng mặt)

Cùng cư trú: Ấp H, xã Đ, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 20 tháng 4 năm 2018 Phòng cảnh sát kinh tế Công an thành phố Cần Thơ tiến hành khám xét hành chính tại tiệm tạp hóa CL do Hồ Hoàng K và NLC2 làm chủ, ngụ ấp Đ, xã Đ, huyện Thới Lai, phát hiện và thu giữ 290 bao thuốc lá điếu nhập lậu gồm 120 bao thuốc lá hiệu JET và 170 bao thuốc lá hiệu HERO; 01 quyển tập ghi chép tiền hụi; 03 quyển tập ghi chép có liên quan đến việc kinh doanh mua bán; 01 đầu thu Camera hiệu HIKVISION model: DS-7208HUHI-F1/N, serial No: 687166044 và 02 dây cáp; 01 điện thoại di động hiệu SamSung S8 màu vàng, SN:R58J45O4EZA, IMEI 1: 358059080458924/01, IMEI 1358059080458922/01, bên trong có gắn 02 sim số 0944102008 và 0931009303; cùng lúc Phòng cảnh sát kinh tế Công an thành phố Cần Thơ tiến hành khám xét hành chính tại Shop quần áo CT phát hiện và thu giữ 2.350 bao thuốc lá điếu nhập lậu gồm 1.000 bao thuốc lá hiệu JET và 1.350 bao thuốc lá hiệu HERO; 01 điện thoại di động hiệu Huawei được niêm phong, 01 thẻ sim được niêm phong và lập biên bản thu giữ. Tổng số thuốc lá điếu ngoại nhập lậu mà Phòng cảnh sát kinh tế Công an thành phố Cần Thơ thu giữ tại tiệm tạp hóa CL và Shop quần áo CT là 2.640 bao. (BL 19, 20, 21, 22).

Qua điều tra đã xác định được toàn bộ 2.640 bao thuốc lá điếu nhập lậu bị thu giữ nêu trên là của Hồ Hoàng K mua của một người tên Giang không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể. K mua của Giang số thuốc lá trên nhằm mục đích bán lại để K lời, trong số đó có 2.350 bao thuốc lá thu giữ tại Shop quần áo CT là do K gửi nhờ tại Shop CT nhằm tránh sự kiểm tra của cơ quan chức năng. Do K là em rể của NLC3 nên K đã hỏi NLC3 và NLC4 là chồng NLC3 cho K gửi những bọc đồ nên NLC3 và NLC4 đã cho K gửi nhờ. K khai nhận đã 03 lần mua thuốc lá điếu nhập lậu của Giang cụ thể:

Lần thứ nhất: Vào cuối tháng 3/2018 K mua 300 bao thuốc lá điếu nhập lậu của Giang gồm 100 bao thuốc lá hiệu JET và 200 bao thuốc lá hiệu HERO với giá 4.040.000 đồng.

Lần thứ hai: Vào ngày 10/4/2018 K mua 350 bao thuốc lá điếu nhập lậu của Giang gồm 150 bao thuốc lá hiệu JET và 200 bao thuốc lá hiệu HERO với giá 5.025.000 đồng.

Lần thứ ba: Vào ngày 20/4/2018 K mua 2.500 bao thuốc lá điếu nhập lậu của Giang gồm 1.100 bao thuốc lá hiệu JET và 1.400 bao thuốc lá hiệu HERO với giá 34.200.000 đồng. K đã trả tiền cho Giang 25.200.000 đồng, còn nợ lại 9.000.000 đồng chưa kịp bán thì bị bắt.

Trong hai lần mua thứ nhất và thứ hai chỉ có lời trình bày của K, không thu giữ được vật chứng, chưa làm việc được với người tên Giang để xác định có việc K mua thuốc lá ngoại nhập lậu của Giang như K trình bày không nên chưa đề nghị xử lý đối với lần mua thứ nhất và thứ hai của K.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 1076A ngày 01/8/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện Thới Lai đã xác định 2.640 bao thuốc lá điếu nhập lậu thu giữ của Hồ Hoàng K là 36.032.000 đồng.

Trong thời gian bán thuốc lá điếu nhập lậu K thu lợi bất chính được 200.000 đồng.

Đối với NLC2 là người đứng tên kinh doanh tiệm tạp hóa CL nhưng việc kinh doanh là do K quản lý việc nhập hàng bán hàng, việc K mua thuốc lá điếu nhập lậu bán Loan không biết nên không đề nghị xử lý.

Đối với NLC4 và NLC3 03 lần cho K gửi đồ nhờ nhưng không biết đó là thuốc lá điếu nhập lậu, số lượng bao nhiêu và cũng không hưởng lợi gì từ việc cho gửi đồ nhờ, còn NLC1 được K thuê bán tạp hóa hàng ngày, theo yêu cầu của K ngày 20/4/2018 NLC1 có qua nhà NLC3 lấy thuốc lá về và có bán cho khách hàng 20 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu HERO, không có hưởng lợi gì và không biết việc K mua thuốc lá điếu nhập lậu về bán K lời là vi phạm pháp luật nên không đề nghị xử lý đối với NLC1, NLC3 và NLC4.

Đối với người tên Giang bán thuốc lá điếu nhập lậu cho K, do không biết rõ họ tên và địa chỉ cụ thể nên chưa đề nghị xử lý.

Trong quá trình điều tra Hồ Hoàng K đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình (BL 116 đến BL 154)

Ngày 10/8/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thới Lai đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Hồ Hoàng K 01 quyển tập ghi chép tiền hụi; 03 quyển tập ghi chép có liên quan đến việc kinh doanh mua bán; 01 đầu thu Camera hiệu HIKVISION model: DS-7208HUHI-F1/N, serial No: 687166044 và kèm theo 02 dây cáp; trả cho NLC4 01 điện thoại di động hiệu Huawei được niêm phong, 01 thẻ sim được niêm phong do không có liên quan đến vụ án (BL 197-199).

Đối với những vật chứng còn lại gồm: 1.120 bao thuốc lá hiệu JET; 1.520 bao thuốc lá hiệu HERO và 01 điện thoại di động hiệu SamSung S8 màu vàng, SN:R58J45O4EZA, IMEI 1: 358059080458924/01, IMEI 1358059080458922/01, bên trong có gắn 02 sim số 0944102008 và 0931009303 đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Lai chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 26 /CT-VKS ngày 11/9/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai đã truy tố Hồ Hoàng K về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm b khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của người làm chứng và nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo Hồ Hoàng K thừa nhận đã “Buôn bán hàng cấm”, trong thời gian buôn bán đến khi bị bắt bị cáo đã thu lợi bất chính là 200.000đ, số còn lại chưa bán được thì bị bắt.

Hành vi “Buôn bán hàng cấm” của bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, nó gây ảnh hưởng về thể chất và tinh thần cho những đối tượng sử dụng nó và sự nguy hại của thuốc lá là không nhỏ, nó phát sinh ra nhiều loại bệnh hiểm nghèo khi sử dụng thuốc lá. bị cáo đã gieo rắt cái chết thể chất và tinh thần cho nhân loại. Nay bị cáo biết được việc buôn bán hàng cấm cụ thể là thuốc lá là sai phạm là ảnh hưởng đến môi trường và con người, bị cáo đã ăn năn hối lỗi nhận thấy việc làm của mình là sai nên Hội đồng có xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

Viện kiểm sát đề nghị về trách nhiệm hình sự: điểm b, khoản 1, Điều 190; Điều 3, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 65 BLHS

Xử phạt bị cáo: Hồ Hoàng K 12 – 18 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 24 - 36 tháng, phạt bổ sung bị cáo phải nộp từ 20.000.000đ – 30.000.000đ sung ngân sách nhà nước. Buộc bị cáo giao nộp số tiền thu lợi bất chính là 200.000đ sung ngân sách nhà nước.

Hội đồng đã cân nhắc và phạt bị cáo 01 năm tù và cho hưởng án treo thời gian thử thách là 24 tháng, giao bị cáo về Ủy ban nhân xã Đông Thuận giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách, thời gian được tính kể từ ngày tuyên án.

Về hình phạt bổ sung : Buộc bị cáo nộp 20.000.000đ sung ngân sách nhà nước.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 1.120 bao thuốc lá hiệu Jet, 1520 bao thuốc lá hiệu Hero.

Tịch thu sung công 01 điện thoại di đông hiệu Sam Sung S8 màu vàng, SN:R58J 4504EZA, IMEI 1: 358059080458924/01, 1358059080458922/01, bên trong có gắn 02 sim số 0944102008 và 0931009303.

Ghi nhận số vật chứng không liên quan vụ án đã trả lại cho bị cáo và người làm chứng.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Hồ Hoàng K phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Áp dụng: điểm b, khoản 1, Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 3, Điều 65 BLHS

Xử phạt: Bị cáo Hồ Hoàng K 01 (một) năm tù. Nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 02 năm, giao bị cáo về Ủy ban nhân xã Đ giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách, thời gian được tính kể từ ngày tuyên án.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo, cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Phạt bổ sung bị cáo 20.000.000đ, buộc bị cáo phải nộp sung ngân sách nhà nước.

Về xử lý vật chứng:

- Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ tiền thu lợi bất chính sung ngân sách nhà nước

- Tịch thu tiêu hủy: 1.120 bao thuốc lá hiệu Jet, 1520 bao thuốc lá hiệu Hero.

Tịch thu sung công 01 điện thoại di đông hiệu Sam Sung S8 màu vàng, SN:R58J 4504EZA, IMEI 1: 358059080458924/01, 1358059080458922/01, bên trong có gắn 02 sim số 0944102008 và 0931009303.

Ghi nhận số vật chứng không liên quan vụ án đã trả lại cho bị cáo và người làm chứng.

Về án phí: Bị cáo Hồ Hoàng K phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ