vanban.org

Bản án 26/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Hoài Đức, TP. Hà Nội Tuyên án 17/04/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Như Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Như Th 12 (Mười hai) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 06 tháng tù của Bản án hình sự số 174/2017/HSST ngày 27/9/2017 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/01/2018. Bị … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Như Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 113 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 119 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HOÀI ĐỨC
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2018/HSST;
Ngày 17 tháng 4 năm 2018.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Thanh Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đào Thị Xê.

2. Ông Trần Mạnh Khang.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Công Thành – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Hoài Đức-Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Thu Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2018/HSST ngày 02 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:

*Nguyễn Nhƣ Th, sinh năm 1997 tại huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội; trú tại: Thôn , xã Cát Q, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 04/12; Con ông Nguyễn Như L và bà Lê Thị H; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: ngày 27/9/2017 bị TAND quận Bắc Từ Liêm xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 12 tháng về tội: Trộm cắp tài sản; tiền sự: Không. Tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/01/2018 tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố Hà Nội.

Có mặt tại phiên toà.

- Ngƣời bị hại:

1/ Anh Đỗ Mạnh Tr, sinh năm 1990 HKTT: Khu 6, xã Bản , huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Chỗ ở: Thôn Cựu Q, xã Đức Th, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

Vắng mặt tại phiên toà.

2/ Anh Nguyễn Minh Ng, sinh năm 1979 HKTT: Thị Trấn Ph, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội Chỗ ở: Thôn Cựu Q, xã Đức Thượng, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

Vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Do cần tiền chi tiêu nên khoảng 11 giờ ngày 17/01/2018, Nguyễn Như Th – Sinh năm 1997 HKTT: thôn , xã Cát Q, huyện Hoài Đức, TP. Hà Nội đi bộ từ nhà tới thôn Cựu Q, xã Đức Thượng, huyện Hoài Đức, TP. Hà Nội với mục đích trộm cắp tài sản. Khi đi đến khu trọ gồm 5 phòng của ông Nguyễn Ngọc B – HKTT: Thôn Cựu Q, xã Đức Th, huyện Hoài Đức, TP. Hà Nội, Th thấy cửa cổng chính của khu trọ không khóa, Th quan sát thấy không có ai nên đi vào trong khu trọ. Khi đi qua phòng trọ số 5 của anh Đỗ Mạnh Tr, HKTT: Khu 6, xã Bản Ng, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ thì thấy cửa phòng chỉ cài then, không khóa ngoài nên Th dùng tay phải mở then chốt trên cánh cửa gỗ đi vào trong phòng. Vào phòng Th quan sát thấy đầu giường ngủ có 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Wing B311 màu trắng viền xanh và 01 (một) chiếc đồng hồ đeo tay nhãn hiệu WLISTH màu đồng ở cuối giường ngủ, Th lấy chiếc đồng hồ đeo tay và chiếc điện thoại di động cho vào túi áo khoác bên phải của Th đang mặc rồi đi ra khỏi phòng. Khi Th đi ra ngoài thì thấy 01 (một) chiếc xe máy điện nhãn hiệu ELECTRIC BICYCLES 133 của anh Nguyễn Minh N – HKTT: Thị trấn Ph, huyện Đan Phượng, TP. Hà Nội (là người thuê trọ của ông B) dựng trước cửa phòng trọ số 4, đầu xe hướng vào trong đuôi xe hướng ra ngoài đường. Th quan sát thấy không có ai nên dùng hai tay dắt chiếc xe máy điện trên lùi khoảng 20 đến 30cm để quay đầu xe dắt ra ngoài đường thì lúc đó ông Nguyễn Ngọc Bphát hiện và hô “Trộm, trộm”, Th hoảng sợ, để lại xe rồi bỏ chạy ra ngoài đường, khi Th chạy được khoảng 400m đến nghĩa trang thôn Cựu Q, xã Đức Th, huyện Hoài Đức, TP. Hà Nội thì bị người dân bắt giữ và đưa về trụ sở Công an xã Đức Th.

Vật chứng thu giữ:

- 01 (một) chiếc xe máy điện nhãn hiệu ELECTRIC BICYCLES 133 màu đen trắng số khung 653621409883636, số máy 141100P12650S6 do anh Nguyễn Minh Ng giao nộp.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Wing B311, số IMEL1: 864863041881752, số IMEI 2: 864863041881760 thu giữ trên người Nguyễn Như T.

- 01 (một) đồng hồ đeo tay nhãn hiệu WLISTH, dây xích bên trong được đánh số 1,2,3 thu giữ trên người Nguyễn Như Th.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 23/KL-ĐGTS ngày 25/01/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hoài Đức kết luận:

- 01 (một) chiếc xe máy điện nhãn hiệu ELECTRIC BICYCLES 133 màu đen trắng số khung 653621409883636, số máy 141100P12650S trị giá 3.733.000 đồng (Ba triệu bảy trăm ba mươi ba nghìn đồng).

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Wing B311, số IMEL1: 864863041881752, số IMEI 2: 864863041881760 trị giá 40.000 đồng (Bốn mươi nghìn đồng).

- 01 (một) đồng hồ đeo tay nhãn hiệu WLISTH, dây xích bên trong được đánh số 1,2,3 trị giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng).

Tổng giá trị tài sản bị cáo Th trộm cắp là 4.273.000 đồng (Bốn triệu hai trăm bảy mươi ba nghìn đồng).

Ngày 07/02/2018, Cơ quan CSĐT Công an huyện Hoài Đức đã trao trả cho 01 (một) chiếc xe máy điện nhãn hiệu ELECTRIC BICYCLES 133 màu đen trắng cho anh Nguyễn Minh Ng và 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Wing B311, 01 (một) chiếc đồng hồ đeo tay nhãn hiệu WLISTH cho anh Đỗ Mạnh Tr. Sau khi nhận lại tài sản anh Ng, anh Tr không đề nghị gì về bồi thường dân sự.

Tại Bản cáo trạng số 33/CT-VKS ngày 30 tháng 3 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức - Thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Như Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện VKS nhân dân huyện Hoài Đức giữ nguyên cáo trạng truy tố Nguyễn Như Th về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 173, điểm s, Khoản 1 Điều 51, Điểm h, Khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 56; khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 12 - 15 tháng tù, tổng hợp với hình phạt 06 tháng tù tại Bản án hình sự số 174/2017/HSST ngày 27/9/2017 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 18 – 21 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 17/01/2018 tại khu trọ của ông Nguyễn Ngọc B ở thôn Cựu Q, xã Đức Th, huyện Hoài Đức, TP. Hà Nội, lợi dụng khu trọ không có người Nguyễn Như Th đã trộm cắp 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Wing B311; 01 (một) đồng hồ đeo tay nhãn hiệu WLISTH của anh Đỗ Mạnh Tr và 01 (một) chiếc xe máy điện nhãn hiệu ELECTRIC BICYCLES 133 màu đen trắng của anh Nguyễn Minh Ng.

. Hành vi của bị cáo là cố ý lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, xâm phạm đến quan hệ sở hữu hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Tài sản bị cáo chiếm đoạt có tổng giá trị 4.273.000 đồng (Bốn triệu hai trăm bảy mươi ba nghìn đồng).

. Tại phiên toà bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình theo bản cáo trạng và lời luận tội của Viện kiểm sát. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận Nguyễn Như Th phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội truy tố về hành vi phạm tội của bị cáo là có căn cứ pháp luật.

. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an xã hội ở địa phương. Toà án xét xử nghiêm minh vụ án nhằm giáo dục bị cáo và góp phần phòng ngừa tội phạm chung.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 27/9/2017 Nguyễn Như Th bị TAND quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”, tại thời điểm phạm tội bị cáo chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bội luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

. Khi quyết định hình phạt bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thành khẩn khai báo theo quy định tại Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

. Đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy bị cáo đã bị kết án về hành vi “Trộm cắp tài sản” nay lại tiếp tục thực hiện hành vi cùng loại tội. Điều đó cho thấy bản chất lười lao động coi thường pháp luật của bị cáo. Do đó cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội. Viện kiểm sát nhân đân huyện Hoài Đức đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Điều 38; Điều 56; Khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù. Tổng hợp hình phạt với bản án số 174/2017/HSST ngày 27/9/2017 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội buộc bị cáo chấp hành hình phạt từ 18 đến 21 tháng tù là có căn cứ; Do đó Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn là phù hợp.

Bị cáo phạm tội khi đang chấp hành Bản án số 174/2017/HSST ngày 27/9/2017 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội nên Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại Điều 56; khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo.

. Bị cáo đang bị tạm giam, để đảm bảo việc thi hành án, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 109, 113, 119 và 329 của Bộ luật tố tụng hình sự, Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày (bốn mươi lăm ngày), kể từ ngày tuyên án.

. Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự:

Người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì khác nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, người bị hại, có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Như Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 56; Khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Như Th 12 (Mười hai) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 06 tháng tù của Bản án hình sự số 174/2017/HSST ngày 27/9/2017 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/01/2018. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/7/2017 đến ngày 27/9/2017 (tại Bản án số: 174/2017/HSST ngày 27/9/2017 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội).

*Về trách nhiệm dân sự:

Ghi nhận người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì khác.

- Về án phí:

Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội Khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Nguyễn Như Th phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: ¸p dông §iÒu 331 và Điều 333 Bé luËt Tè tông H×nh sù;

+ Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

+ Người bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ