vanban.org

Bản án 26/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Châu Phú, tỉnh An Giang Tuyên án 25/08/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Minh L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Minh L 09 (chín) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày bị tạm giam là ngày 02/5/2017. Về án phí: Bị cáo Huỳnh Minh L phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Minh L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 192 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 26/2017/HSST
Ngày: 25-8-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Thi.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Chào.

Ông Nguyễn Hoàng Tuấn.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Trung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện C.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Ninh - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2017, tại Văn phòng Ban ấp Khánh Châu, Tòa án nhân dân huyện C mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ L số: 16/2017/HSST ngày 11 tháng 7 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2017/HSST-QĐ ngày 08 tháng 8 năm 2017, đối với bị cáo:

- Họ và tên: Huỳnh Minh L;

- Sinh năm: 1991;

- Nơi sinh: Châu Phú, An Giang;

- Địa chỉ cư trú: Ấp Khánh Thuận, xã Khánh Hòa, HUYỆN C, tỉnh An Giang;

- Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 02/12;

- Cha: Huỳnh Minh Lũ, sinh năm 1967;

- Mẹ: Lê Thị Út Em, sinh năm 1970;

- Vợ: Nguyễn Thị Bé Hai, sinh năm 1994 (đã ly hôn);

- Con: Có 01 con, sinh năm 2012;

- Tiền án: Chưa;

- Tiền sự: Có 02 tiền sự

+ Lần 1: Vào ngày 04/4/2016, bị Công an xã Khánh Hòa, xử phạt về hành vi đánh nhau hoặc xúi giục người khác đánh nhau (chưa nộp phạt);

+ Lần 2: Vào ngày 26/5/2016, bị Công an xã Khánh Hòa xử phạt về hành vi uống rượu say gây mất trật tự công cộng (chưa nộp phạt).

- Bị cáo bị tạm giam từ ngày 02/5/2017 đến nay, có mặt.

* Bị hại:

- Anh Tô Hồng S (Tèo), sinh năm 1973; địa chỉ cư trú: Ấp Khánh Châu, xã Khánh Hòa, HUYỆN C, tỉnh An Giang, có mặt.

- Chị Trần Thị Sang, sinh năm 1976; địa chỉ cư trú: Ấp Khánh Châu, xã Khánh Hòa, HUYỆN C, tỉnh An Giang, vắng mặt.

* Người làm chứng:

- Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1937, địa chỉ cư trú: Ấp Khánh Phát, xã Khánh Hòa, HUYỆN C, tỉnh An Giang, vắng mặt.

- Bà Huỳnh Kim Hoa, sinh năm 1957, địa chỉ cư trú: Ấp Khánh Phát, xã Khánh Hòa, HUYỆN C, tỉnh An Giang, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 10 tháng 02 năm 2017, Huỳnh Minh L đến nhà Tô Hồng S (Tèo) thuộc khu vực ấp Khánh Châu, xã Khánh Hòa, HUYỆN C, tỉnh An Giang, do có ý định trộm xe máy từ trước nên khi đến nhà anh S, thấy chiếc xe máy, loại xe Ware, do Trung Quốc sản xuất, biển số 67H3 – 7384 đang dựng ngay trước nhà, trên xe còn chìa khóa, L kêu cửa thì chị Trần Thị S(vợ S) ra mở cửa để hỏi xem L kêu cửa có việc gì thì L cho biết L muốn chuộc điện thoại do L đã cầm cho anh S trước đó, lúc này chị Sang kêu L về nhà có việc gì mai tính vì anh S đã ngủ.

L đi về nhà khoảng 30 phút sau L quay trở lại nhà anh S quan sát thấy không có ai nên dẫn xe ra khỏi cổng chạy đi tìm chỗ bán nhưng không bán được, L chạy xe đến gửi nhà ông Nguyễn Văn P, rồi về nhà ngủ. Sáng hôm sau anh S nghi L lấy trộm xe và tìm gặp L hỏi, nhưng L không thừa nhận nên anh S đến Công an xã Khánh Hòa trình báo. Tại Công an xã Khánh Hòa L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

* Lời khai của bị hại:

- Anh Tô Hồng S trình bày: Xe mô tô biển số 67H3 – 7384 do cha là Tô Hồng Khái mua cách nay 16 năm với giá 9.200.000 đồng do ông Khái đứng tên, hiện ông Khái đã chết và anh đang quản L. Sau khi xe bị mất anh có nghi L lấy trộm và trình báo Công an xã Khánh Hòa, sau đó L thừa nhận lấy trộm xe của anh, gửi nhà ông Nguyễn Văn Pvà L chở anh đến nhà ông P lấy xe. Hiện tại anh đã nhận lại nguyên trạng chiếc xe, không yêu cầu xử L về tài sản, yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Bị hại Trần Thị S trình bày: Khoảng 22 giờ ngày 10 tháng 02 năm 2017, L kêu cửa đòi gặp chồng chị (S) để chuộc lại điện thoại, chị kêu L về hẹn mai tính. Sau đó, L đi về, chị đóng cửa rào lại chỉ chốt cửa chứ không khóa cửa rào và đi ngủ. Sau này chị mới biết L là người đã trộm xe của gia đình chị (bút lục 62 – 65).

* Lời khai của những người làm chứng:

- Ông Nguyễn Văn P trình bày: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 10 tháng 02 năm 2017 ông đang ngủ thì có người gọi, xưng là em của Luân đến gửi chiếc xe, hẹn mai lấy do nhậu say chạy không nổi, người đó dắt xe vào nhà và ông khóa cửa ngủ tiếp. Hôm sau ông mới biết xe của Huỳnh Minh L trộm của người khác (bút lục số 57 – 61).

- Huỳnh Kim H trình bày: Khoảng 09 giờ ngày 11 tháng 02 năm 2017, mẹ của L nói với bà là nghi L trộm xe của S nên kêu bà hỏi L. Sau đó, bà có hỏi nhưng L không trả lời, cuối cùng L cũng thừa nhận có trộm xe của S, rồi L chở S đi lấy xe (bút lục 67).

- Theo Biên bản định giá tài sản số: 05/BB.HĐ ngày 28/02/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự HUYỆN C, kết luận: 01 chiếc xe máy Ware (Trung Quốc), biển số 67H3 – 7384, số máy: 01751900, số khung: 0010400, hiệu Trung Quốc loại xe 02 bánh dung tích 50-175cm3, màu S: nâu đỏ đã qua sử dụng. Xe còn 60% giá trị 6.000.000 đồng x 60% = 3.600.000 đồng (bút lục 22).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không ý kiến hay khiếu nại về kết luận của Hội đồng định giá nêu trên.

Tại Bản cáo trạng số: 16/VKS ngày 11 tháng 7 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân HUYỆN C, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Huỳnh Minh L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Huỳnh Minh L đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009, nên giữ nguyên Bản cáo trạng số: 16/VKS ngày 11 tháng 7 năm 2017. Bị cáo có nhân thân xấu 01 (một) lần bị xử L hành chính về hành vi uống rượu say, gây rối trật tự công cộng và 01 (một) lần bị xử L hành chính về tội đánh nhau hoặc xúi giục đánh nhau nhưng chưa nộp phạt, nên cần phải có mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo. Tuy nhiên, khi lượng hình, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại. Căn cứ vào tính chất của vụ án, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g, điểm h, điểm p khoản 1, 2 Điều 46. Xử phạt bị cáo L từ 09 tháng đến 12 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Minh L khai nhận do cần tiền tiêu xài, nên lợi dụng lúc gia đình anh S sơ hở đã lén lút vào nhà anh S trộm chiếc xe máy, loại xe Ware, do Trung Quốc sản xuất, biển số 67H3 – 7384. Bị cáo biết tội, đã ăn năn hối hận, không tranh luận, xin giảm hình phạt để bị cáo sớm về với gia đình làm lại người tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Bị hại Trần Thị Sang, người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt, tuy nhiên những người vắng mặt đã có lời khai tại giai đoạn điều tra nên việc vắng mặt họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 192 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo Huỳnh Minh L đã thừa nhận vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 10 tháng 02 năm 2017 bị cáo lợi dụng sự sơ hở của gia đình anh S bị cáo đã lén lút mở cửa rào, vào nhà trộm 01 chiếc xe máy Ware (Trung Quốc) màu nâu đỏ, biển số 67H3 – 7384 của anh Tô Hồng S. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại và những người làm chứng trong giai đoạn điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Huỳnh Minh L do cần tiền tiêu xài đã lấy trộm 01 chiếc xe máy Ware (Trung Quốc) màu nâu đỏ, biển số 67H3 – 7384 của anh Tô Hồng S. Căn cứ biên bản định giá tài sản số: 05/BB.HĐ ngày 28/02/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự HUYỆN C, thì chiếc xe có giá trị là 3.600.000 đồng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 thì “Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”. Hành vi của bị cáo L đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Xét về tính chất của vụ án thì thấy như sau:

Tài sản hợp pháp của công dân là một trong những đối tượng được pháp luật bảo vệ. Mọi hành vi xâm phạm đến tài sản của người khác đều bị xử L nghiêm minh trước pháp luật.

Xét bị cáo Huỳnh Minh L là người đã thành niên, có đầy đủ nhận thức, có sức khỏe để lao động làm ăn chân chính nuôi sống bản thân, tạo dựng cuộc sống có ích cho gia đình và xã hội, nhưng bị cáo lười lao động muốn có tiền nhanh để tiêu xài thỏa mãn nhu cầu bản thân mà không phải tốn nhiều công sức lao động, bị cáo đã bất chấp pháp luật, biết trộm cắp tài sản là hành vi trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện phạm tội, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người bị hại, vi phạm pháp luật của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương, tài sản chiếm đoạt có giá trị là 3.600.000 đồng. Đồng thời, bị cáo có nhân thân xấu là đã bị xử L hành chính 02 lần về hành vi gây rối trật tự công cộng và đánh nhau hoặc xúi giục đánh nhau nên khi lượng hình phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm để có đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành người tốt và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, cũng có xem xét cho các bị cáo là thành phần lao động nghèo; nhân thân chưa tiền án; học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế; mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trước cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã thấy được tội lỗi của bản thân mà thật thà khai báo, thành khẩn nhận tội, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải; tài sản đã được thu hồi toàn bộ trả cho người bị hại nên chưa gây thiệt hại. Đây là những tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt khi quyết định hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 138 Bộ luật Hình sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng”. Xét bị cáo là thành phần lao động nghèo, làm thuê không có tài sản và cũng chưa hưởng lợi từ việc phạm tội, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

* Các biện pháp tư pháp khác:

- Về trách nhiệm dân sự:

Người bị hại anh Tô Hồng S đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tang vật chứng: 01 chiếc xe máy Ware (Trung Quốc) màu nâu đỏ, biển số 67H3 – 7384 đã thu hồi và trả lại cho bị hại là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về án phí: Bị cáo Huỳnh Minh L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Minh L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; các điểm g, h, p khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Minh L 09 (chín) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày bị tạm giam là ngày 02/5/2017.

Áp dụng Điều 99; Điều 231; Điều 234 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Áp dụng khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30 ngày 12 tháng 2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản ly và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về án phí: Bị cáo Huỳnh Minh L phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại Tô Hồng S có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 25/8/2017). Bị hại Trần Thị S vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Chào Nguyễn Hoàng Tuấn

Lê Thị Hồng Thi Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Những người tham gia tố tụng;

- CA, VKS huyện CP;

- Tòa án tỉnh AG;

- THA Châu Phú;

- Sở Tư pháp tỉnh AG;

- Lưu HS – VP.

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hồng Thi THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Chào Nguyễn Hoàng Tuấn

Lê Thị Hồng Thi

Cỡ chữ