vanban.org

Bản án 256/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 21/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm b, c khoản 2 Điều 255; Điều 47; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV; Tuyên bố bị cáo Vũ Văn D phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn D tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Điểm b, c khoản 2 Điều 255; Điều 47; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 256/2021/HS-ST
Ngày: 21-9-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Trọng Quân.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thiện;

Bà Trần Ngọc Phương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Phạm Thanh Trang, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 203/2021/TLST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 244/2021/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:

Vũ Văn D, sinh năm 1990 tại Thái Nguyên; HKTT: Xóm GM, xã K2, huyện ĐT, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Huy L và bà Dương Thị L1; có vợ tên Nguyễn Thị A, sinh năm: 1985 (đã ly hôn) và 03 người con, lớn nhất sinh năm: 2014, nhỏ nhất sinh năm: 2017; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/10/2020, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Người làm chứng:

1. Ông Trần Thanh C, sinh năm 1982. Vắng mặt;

2. Ông Trần Văn B, sinh năm 1986. Vắng mặt;

3. Bà Quang Thị TQ, sinh năm 1998. Vắng mặt;

4. Bà Phan Mộng TD, sinh năm 2001. Vắng mặt;

5. Bà Nguyễn Thị TC, sinh năm 2001. Vắng mặt;

6. Ông Vũ Văn C, sinh năm 1974. Vắng mặt;

7. Bà Phùng Thị TT, sinh năm 1997. Vắng mặt;

8. Ông Mai Quang T, sinh năm 1976. Vắng mặt;

9. Ông Lương Văn B, sinh năm 1990. Vắng mặt;

10. Ông Phạm Tuấn P, sinh năm 1982. Vắng mặt;

11. Bà Nguyễn Ngọc Tr, sinh năm 2000. Vắng mặt;

12. Bà Nguyễn Thị TH, sinh năm 2005. Vắng mặt;

13. Bà Phạm Thị TN, sinh năm 2003. Vắng mặt;

14. Bà Nguyễn AT, sinh năm 2000. Vắng mặt;

15. Ông Dương MĐ, sinh năm 1994. Vắng mặt;

16. Bà Chu T3, sinh năm 1989. Vắng mặt;

17. Ông Nguyễn AT, sinh năm 1977. Vắng mặt;

18. Ông Lê Vĩnh C, sinh năm 1992. Vắng mặt;

Người chứng kiến:

1. Ông Trần VC, sinh năm 2000. Vắng mặt;

2. Ông Lê BT, sinh năm 1985. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 07/10/2020, Công an thành phố Thuận An phối hợp với Công an phường Bình Hòa tiến hành kiểm tra hành chính cơ sở kinh doanh Tây Hồ thuộc khu phố Bình Đức 3, phường Bình Hòa, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương. Quá trình kiểm tra phát hiện bên trong phòng hát Karaoke A1 có các đối tượng: Vũ Văn D; Trần Thanh C; Quang Thị TQ; Trần Văn B; Phan Mộng TD; Nguyễn Thị TC; Vũ Văn C; Phùng Thị TT; Mai Quang Tuấn; Lương Văn B; Phạm Tuấn P; Nguyễn Ngọc Tr; Nguyễn Thị TH; Phạm Thị TN; Nguyễn AT; Dương MĐ; Chu T3; Nguyễn AT và Lê Vĩnh C. Trong số các đối tượng trên có Nguyễn Thị TH, sinh ngày 22/02/2005 và Phan Thị TN, sinh ngày 16/8/2003 chưa đủ 18 tuổi.

Qua kiểm tra phát hiện: Trên ghế màu nâu trong phòng có một ít chất bột màu trắng, nghi vấn ma túy tổng hợp; Trên bàn đầu tiên dãy số 2 (Phía bên phải hướng từ cửa chính nhìn vào) có 01 dĩa sứ màu trắng, bên trên gồm có:

+ Một ít chất bột màu trắng, nghi vấn ma túy tổng hợp;

+ 01 túi nylon miệng kéo dính không chứa gì;

+ 01 thẻ ATM Vietcombank đề tên Phan Thi Lam;

+ 01 đoạn ống hút được làm bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng (Mười ngàn đồng), bị cháy một đầu;

Qua làm việc, Vũ Văn D khai nhận các chất bột màu trắng trên bàn và ghế đều là ma túy dạng khay của D; đồng thời, D tự nguyện lấy ra từ trong túi quần đang mặc gồm: 01 túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng, nghi vấn ma túy tổng hợp; 01 túi nylon miệng kéo dính chứa 18 (Mười tám) viên nén màu xanh, nghi vấn ma túy tổng hợp.

Tang vật thu giữ gồm:

- 01 gói giấy bên trong có một ít chất bột màu trắng, nghi vấn ma túy tổng hợp;

- 01 túi nylon miệng kéo dính chứa chất bột màu trắng, nghi vấn ma túy tổng hợp;

- 18 (Mười tám) viên nén màu xanh, nghi vấn ma túy tổng hợp, đựng trong túi nylon miệng kéo dính.

- 01 túi nylon miệng kéo dính bên trong chứa tinh thể màu trắng, nghi vấn ma túy tổng hợp;

- 01 dĩa sứ màu trắng;

- 01 túi nylon miệng kéo dính;

- 01 ống hút cuộn tròn bằng tờ polime mệnh giá 10.000 đồng (Mười nghìn đồng) bị cháy xén;

- 01 thẻ nhựa ATM ngân hàng Vietcombank có chữ PHAN THI LAM.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An có Quyết định số 759 ngày 08/10/2020 về việc trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương giám định thành phần và khối lượng các chất đã thu giữ nêu trên.

Tại Bản kết luận giám định số: 637/MT-PC09 ngày 16/10/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bình Dương xác định:

- Mẫu chất màu trắng, tinh thể gửi giám định là ma túy, có khối lượng/trọng lượng: 0,0051gam (M1); 0,0068gam (M2); 4,2487gam (M4), loại Ketamine. Tổng khối lượng: 4,2606 gam, loại Ketamine.

- Mẫu viên nén gửi giám định là ma túy, có khối lượng/trọng lượng: 6,2681 gam (M3), loại MDMA.

Quá trình điều tra bị can Vũ Văn D khai nhận: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 07/5/2020, D liên hệ mua số ma túy nêu trên từ một người thanh niên tên Sơn (không rõ lai lịch) ở gần khu vực quán Tây Hồ thuộc phường Bình Hòa, thành phố Thuận An với số tiền 12.000.000 đồng để phục vụ cho buổi tiệc vui chơi cùng bạn bè vào ngày 07/5/2020 tại quán Tây Hồ. Sau đó khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày, D mang số ma túy mua cất giấu bên trong túi quần đi vào phòng hát karaoke A1 của quán lấy ra một ít ma túy dạng khay và hai viên thuốc lắc cùng công cụ sử dụng ma túy gồm dĩa sứ, ống hút cuộn tròn bằng tờ polime mệnh giá 10.000 đồng, thẻ nhựa ATM để lên bàn và mời tất cả các đối tượng đang có mặt tại phòng hát ai có nhu cầu thì sử dụng miễn phí. Số ma túy còn lại D cất giấu vào bên trong túi quần phía trước bên phải để khi sử dụng hết số ma túy trên bàn thì sẽ lấy ra tiếp tục sử dụng tiếp

Trong quá trình vui chơi tại phòng đã có 13 đối tượng sử dụng ma túy gồm: Trần Thanh C, Quang Thị TQ, Trần Văn B, Phan Mộng TD, Nguyễn Thị TC, Vũ Văn C, Phùng Thị TT, Mai Quang Tuấn, Lương Văn B, Phạm Tuấn P, Nguyễn Ngọc Tr, Nguyễn Thị TH, Phan Thị TN.

Bản Cáo trạng số 217/CT-VKS-TA ngày 16/6/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương truy tố Vũ Văn D về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung Cáo trạng và đề nghị căn cứ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51; điểm b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự xử phạt Vũ Văn D mức hình phạt từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 09 tháng tù; đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Vũ Văn D vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt được Nhà tạm giữ Công an thành phố Thủ Dầu Một xác nhận. Trong đơn, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình là trái pháp luật, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, cơ quan điều tra và Viện kiểm sát đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không khiếu nại, tố cáo về các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Tại phiên tòa vắng mặt nhưng đã có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Xét thấy, đơn yêu cầu xét xử vắng mặt của bị cáo là tự nguyện và việc vắng mặt của bị cáo là không ảnh hưởng đến quá trình xét xử vụ án vì trong hồ sơ vụ án, bản tự khai, các biên bản hỏi cung đối với bị cáo cũng như chứng cứ đã được thu thập đầy đủ. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị cáo Vũ Văn D theo đơn yêu cầu của bị cáo, phù hợp với quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi của bị cáo: Qua tranh tụng tại phiên tòa và quá trình điều tra, bị cáo thừa nhận đã mua, cất giữ số ma túy gồm 6,2681 gam ma túy loại MDMA, 4,2606 gam ma túy loại Ketamine nhằm mục đích tổ chức cho các đối tượng Trần Thanh C, Quang Thị TQ, Trần Văn B, Phan Mộng TD, Nguyễn Thị TC, Vũ Văn C, Phùng Thị TT, Mai Quang Tuấn, Lương Văn B, Phạm Tuấn P, Nguyễn Ngọc Tr, Nguyễn Thị TH, Phan Thị TN sử dụng trái phép thì bị phát hiện, thu giữ. Trong số các đối tượng được bị cáo Vũ Văn D tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nêu trên có Nguyễn Thị TH, sinh ngày 22/02/2005 và Phan Thị TN, sinh ngày 16/8/2003, tại thời điểm ngày 07/5/2021 hai người này chưa đủ 18 tuổi.

Về lỗi của bị cáo: Khi thực hiện hành vi tổ chức cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, biết được tác hại của ma túy và việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy bị nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu của cá nhân và của những người khác.

Từ những nhận định nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Hành vi tổ chức cho 13 đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Vũ Văn D đã đủ yếu tố cấu thành tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Trong số các đối tượng đã sử dụng ma túy do bị cáo tổ chức có 02 người chưa đủ 18 tuổi là Nguyễn Thị TH và Phan Thị TN nên hành vi của bị cáo vi phạm quy định tại điểm c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không gây oan sai cho bị cáo.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách quản lý của Nhà nước về ma túy và các chất gây nghiện, xâm phạm an ninh, trật tự tại địa phương, gây lên sự nghiện ngập, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người, đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ra những tệ nạn xã hội và nhiều căn bệnh hiểm nghèo. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và Tòa án nhân dân thành phố Thuận An đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và răn đe các đối tượng khác phòng ngừa chung, nhất là trong giai đoạn hiện nay tình hình tội phạm về ma túy diễn ra ngày càng nhiều, thủ đoạn ngày càng tinh vi, để lại những hậu quả nặng nề, gây nhiều bức xúc cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sau phạm tội có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã ly hôn và hiện phải trực tiếp nuôi 03 con còn nhỏ, con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2017, bị cáo hiện là lao động chính trong gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đề nghị áp dụng những điều khoản và mức hình phạt như nêu trên đối với bị cáo là phù hợp nên được chấp nhận.

Đối với đối tượng bán ma túy trái phép cho bị can Vũ Văn D tại khu vực gần quán Tây Hồ thuộc khu phố Bình Đức 3, phường Bình Hòa, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân, địa chỉ đối tượng nên sẽ tiếp tục xác minh xử lý sau.

Đối với các đối tượng Trần Thanh C, Quang Thị TQ, Trần Văn B, Phan Mộng TD, Nguyễn Thị TC, Vũ Văn C, Phùng Thị TT, Mai Quang Tuấn, Lương Văn B, Phạm Tuấn P, Nguyễn Ngọc Tr, Nguyễn Thị TH, Phan Thị TN có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an thành phố Thuận An đã xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1, Điều 21, Mục 2, Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ là đúng quy định.

Đối với ông Nguyễn Văn Ch là chủ cơ sở kinh doanh quán ăn Tây Hồ không biết việc nhóm đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng Karaoke A1 nên không có cơ sở xem xét xử lý hình sự. Tuy nhiên ông Nguyễn Văn Ch có trách nhiệm quản lý cơ sở kinh doanh Tây Hồ để cho người khác lợi dụng sử dụng chất ma túy tại phòng Karaoke A1 thuộc cơ sở kinh doanh do mình quản lý nên Công an thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham mưu cho Ủy ban nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 5239/QĐ-XPVPHC, ngày 19/10/2020 là có căn cứ.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 5,5884 gam ma túy loại MDMA; 3,9938 gam ma túy loại Ketaine được niêm phong trong bì thư ký hiệu số 637/PC09 là mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, đây là vật chứng trong vụ án cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) thẻ ATM ngân hàng Vietcombank là vật chứng bị thu giữ trong vụ án, qua điều tra xác định do Phan Thị L, sinh năm:1986, HKTT: 2B/79, khu phố Bình Đức 1, phường Bình Hòa, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đứng tên chủ tài khoản. Quá trình làm việc bà L khai nhận đã đánh rơi chiếc thẻ ATM nêu trên không rõ thời gian, địa điểm; bà L đã làm lại thẻ ATM mới và không có yêu cầu nhận lại chiếc thẻ. Xét thấy chiếc thẻ không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) túi nylon miệng kéo dính không chứa gì và 01 (một) dĩa sứ màu trắng đựng ma túy để các đối tượng sử dụng là vật chứng trong vụ án cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) tờ polime mệnh giá 10.000 đồng (mười nghìn đồng) cuộn tròn thành ống hút làm công cụ sử dụng trái phép chất ma túy đã bị cháy xém, không còn giá trị lưu hành nên giao cho Ngân hàng nhà nước Chi nhánh tỉnh Bình Dương tiêu hủy theo quy định của Ngân hàng nhà nước Việt Nam.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Điểm b, c khoản 2 Điều 255; Điều 47; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

- Điều 106; khoản 2 Điều 136; điểm c, d khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV;

1. Tuyên bố bị cáo Vũ Văn D phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Vũ Văn D 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/10/2020.

2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

Tịch thu, tiêu hủy 04 bì thư niêm phong và số ma túy 5,5884 gam loại MDMA, 3,9938 gam loại Ketaine ký hiệu số 637/PC09 là mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương; 01 (một) thẻ nhựa ATM ngân hàng Vietcombank có chữ PHAN THI LAM; 01 (một) túi nylon miệng kéo dính và 01 (một) dĩa sứ màu trắng.

Tịch thu 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng đã bị cháy xém, không còn giá trị lưu hành, giao cho Ngân hàng nhà nước Chi nhánh tỉnh Bình Dương tiêu hủy theo quy định của Thông tư số 03/2020/TT-NHNN ngày 31 tháng 3 năm 2020 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

(Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15/6/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An).

3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ