vanban.org

Bản án 255/2017/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 31/08/2017 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 31/08/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn D 01 (một) năm tù về “Tội trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 18/4/2017. [2] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D (K1 Đ138) - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 255/2017/HSPT
Ngày: 31 - 8 - 2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Đức.

Các thẩm phán:

1. Ông Văn Công Dần

2. Ông Hoàng Kim Khánh

- Thư ký phiên tòa: Nguyễn Thị Khánh Chi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm.

Ngày 31 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 247/2017/HSPT đối với bị cáo Nguyễn Văn D. Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn D đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 46/2017/HSST của Toà án nhân dân huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk.

Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn D, sinh ngày 24/5/1999, tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Thôn A, xã DY, huyện EH, tỉnh Đắk Lắk; Dân tộc: Kinh; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 7/12; tiền án, tiền sự: Không; con ông Nguyễn S và bà Trương Thị H. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/4/2017 cho đến nay (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk thì nội dung vụ án tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ ngày 17/4/2017, Nguyễn Văn D rủ Lê Q (sinh ngày 23/02/2002) đi trộm cắp tài sản thì Q đồng ý. Khi đi đến nhà bà Hồ Thị T, thấy không có ai ở nhà và cửa nhà không khóa mà chỉ buộc bằng một sợi dây ni lông màu đen nên D và Q đi đến, Q dùng tay giật mạnh làm đứt dây buộc, D và Q vào trong nhà cùng lục tìm tài sản, khi mở tủ đựng quần áo thì thấy có một xấp tiền, Q lấy tiền rồi cùng D đi về nhà D và đếm được 24.000.000 đồng, rồi Q và D chia nhau mỗi người 12.000.000 đồng để tiêu xài cá nhân.

Trong quá tình điều tra Nguyễn Văn D và Lê Q còn khai nhận: Vào khoảng 14 giờ ngày 14/3/2017, Q rủ D đến quán tạp hóa nhà bà Trần Thị L để trộm cắp tài sản. Tại đây, D vào mua nước và nói chuyện để đánh lạc hướng bà L còn Q leo qua hàng rào lưới B40 đột nhập cửa sau vào nhà lấy trộm 600.000 đồng tiền mặt và các loại thẻ cào bán cho bà Trần Thị B được 2.400.000 đồng. Tổng cộng Q và D chiếm đoạt được 3.000.000 đồng, Q và D chia nhau mỗi người 1.500.000 đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 46/2017/HSST ngày 29/6/2017 của Toà án nhân dân huyện Ea H’leo đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; các điểm b, g, o, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 69; khoản 1 Điều 74 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn D 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 18/4/2017.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định xử phạt bị cáo Lê Q, quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 06/7/2017, bị cáo Nguyễn Văn D kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Văn D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng và bản án hình sự sơ thẩm đã nêu.

Quá trình tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét mức hình phạt 01 năm tù mà Toà án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo là thoả đáng, phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt; các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật.

Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết qủa tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, quan điểm của Kiểm sát viên, lời bào chữa của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở pháp lý để khẳng định việc Tòa án nhân dân huyện Ea H’leo xét xử bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, Điều 138 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét mức hình phạt 01 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn D là thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Bởi lẽ, bị cáo là người khởi sướng và rủ rê Lê Q (sinh ngày 23/02/2002) cùng thực hiện hành vi phạm tội. Chỉ trong thời gian ngắn bị cáo đã hai lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác, bị cáo phạm tội với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đến nhân thân và áp dụng đúng, đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cũng không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ nào mới. Các quyết định của bản án sơ thẩm là có căn cứ pháp luật. Hội đồng xét xử thấy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn D về việc xin giảm nhẹ hình phạt mà cần giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp, đúng pháp luật.

Do không được chấp nhận kháng cáo nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn D - Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 46/2017/HSST ngày 29/6/2017 của Toà án nhân dân huyện Ea H’leo, tỉnh Đăk Lắk.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm b, g, o, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 69; khoản 1 Điều 74 Bộ luật hình sự năm 1999;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn D 01 (một) năm tù về “Tội trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 18/4/2017.

[2] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ