- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Văn L phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 252/2022/HS-ST Ngày: 23-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Lại Hữu Tâm
2/ Bà Phan Thị Dòn
Thư ký phiên toà: Bà Châu Nguyễn Thanh Thảo – Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Minh – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 12 năm 2022, tại Phòng xét xử hình sự thuộc Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 261/2022/TLST/HSST ngày 22 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 261/2022/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2022, đối với bị cáo:
Họ và tên: Đoàn văn L; giới tính: Nam; sinh năm 1992, tại tỉnh Long An; hộ khẩu thường trú: Ấp C(nay là ấp T), xã L, huyện Đ, tỉnh A; chỗ ở: Ấp N, xã T, huyện Gi, tỉnh A; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: Công nhân; họ tên cha: Đoàn Văn B; họ tên mẹ: Võ Thị H; hoàn cảnh gia đình: Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/8/2022 theo Quyết định truy nã (có mặt).
Bị hại: Công ty TNHH Đ
Địa chỉ trụ sở: Lô C18-19 đường số 9, khu công nghiệp X, xã X, huyện B, Thành phố H.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lý Ngọc Th, sinh năm 1983 - Văn bản ủy quyền lập vào ngày 17/8/2022 (vắng mặt).
Địa chỉ: 2C/NC đường số 10, Phường H, Quận S, Thành phố H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Công ty TNHH Dịch vụ Bảo vệ H.
Địa chỉ: 155 Nguyễn Gia Tr, Phường K, quận B, Thành phố H.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Bùi Thị H, sinh năm 1976 - Chức vụ giám đốc (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đoàn văn L được Công ty Trách nhiệm hữu hạn Dịch vụ Bảo vệ L (gọi tắt là Công ty L) tuyển dụng vào làm bảo vệ từ ngày 31/8/2011. Công ty L ký hợp đồng cung cấp dịch vụ bảo vệ cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ (gọi tắt là Công ty Đ) ở địa chỉ Lô KC, đường số 9, Khu Công nghiệp X thuộc ấp 1, xã T, huyện B. Theo phân công của Công ty L, khoảng gần 18 giờ ngày 24/9/2011, L đến Công ty Đ làm nhiệm vụ trực gác tại cổng Công ty Đ.
Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, L nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của Công ty Đ bán lấy tiền tiêu xài nên dùng bộ đàm liên lạc với ông Nguyễn Văn T là nhân viên bảo vệ cùng ca trực (nhiệm vụ là trực phía sau Công ty và đi tuần tra xung quanh xưởng) nhờ ông T trực cổng giúp để L đi vệ sinh, ông T đồng ý. Sau khi ông T trực cổng giùm thì L đi ra sau nhà kho của Công ty phát hiện cửa sổ nhà kho đã bị bể kính từ trước nên dùng ghế để đứng lên, dùng tay mở chốt cửa sổ ở bên trong trèo vào nhà kho lấy trộm các đồ vật bằng đồng gồm: 11 cục lupbê, 09 cục đồng 03 chân, 09 cục đồng dư, tổng cộng 19kg đồng bỏ vào bịch nylon để vào một góc trong nhà kho chờ khi nào thuận lợi sẽ mang ra ngoài bán rồi trèo ra ngoài làm việc.
Đến tối ngày 25/9/2011, L làm nhiệm vụ trực phía sau Công ty nên khoảng 01 giờ ngày 26/9/2011, L leo vào trong nhà kho lấy bịch nylon đựng đồng đem ra ngoài cất giấu ở gần hồ nước cách kho khoảng 50m để chờ cơ hội thuận lợi thì mang ra ngoài bán. Sự việc trên được Camera trong Công ty ghi lại nên trưa ngày 26/9/2011, L được Công ty Đ và Công ty L mời lên làm việc thì L thừa nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Sau đó, đại diện Công ty Đ đã đến Công an xã T trình báo sự việc. Vụ việc được Công an xã T lập hồ sơ ban đầu chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh điều tra, xử lý.
Kết luận định giá tài sản số 1235/TCKH ngày 20/10/2011 của Phòng tài chính - Kế hoạch - Ủy ban nhân dân huyện Bình Chánh và Kết luận định giá tài sản số 2666/KL-HĐĐGTS ngày 19/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Bình Chánh xác định: 11 lupbê bằng đồng, 09 cục đồng ba chân, 09 cục đồng dư trị giá 2.173.600 đồng.
Ngày 26/12/2011, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh đã ra Quyết định khởi tố bị can đối với Đoàn văn L về tội “Trộm cắp tài sản”, sau đó bị cáo đã bỏ trốn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh đã ra Quyết định truy nã đối với bị cáo. Đến ngày 11/8/2022, bị cáo bị Công an huyện Cần Đước, tỉnh Long An bắt theo Quyết định truy nã, sau đó giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh điều tra, xử lý.
Vật chứng vụ án thu giữ được gồm: 11 lupbê bằng đồng, 09 cục đồng ba chân, 09 cục đồng dư (tổng cộng 19kg). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh đã trả lại cho Công ty Đại Dương.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh thì bị cáo Đoàn văn L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên, phù hợp lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản Cáo trạng số 226/CT - VKS ngày 21 tháng 11 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Đoàn văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Tại phiên tòa bị cáo Đoàn văn L đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình giống như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo không tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố sau khi nêu tóm tắt nội dung vụ án, phân tích tính chất của vụ án những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
Xử phạt bị cáo Đoàn văn L từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Bị hại Công ty TNHH Đại Dương có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nội dung đơn thể hiện đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu gì về dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bình Chánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, bị cáo trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo phạm tội vào thời điểm (tháng 9 năm 2011) thời điểm Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) chưa được Quốc hội ban hành nên Hội đồng xét xử áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) để xét xử bị cáo là phù hợp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Đoàn văn L tại tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra (BL: 29 - 31, 146 - 155); phù hợp với lời khai của bà Lý Ngọc Th là đại diện bị hại (BL: 116 - 117) phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án; vụ án còn được chứng minh qua hoạt động điều tra như biên bản lấy lời khai; thu giữ vật chứng, kết quả định giá tài sản…cùng các chứng cứ tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 26/9/2011, bị cáo Đoàn văn L đã có hành vi lén lút trộm cắp 11 lupbê bằng đồng, 09 cục đồng ba chân, 09 cục đồng dư trị giá 2.173.600 đồng của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ tại địa chỉ Lô C 18-19, đường số 9, Khu Công nghiệp X thuộc ấp 1, xã T, huyện B, Thành phố H (Theo Kết luận định giá số 2666/KL-HĐĐGTS ngày 19/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Bình Chánh).
Với những tình tiết được chứng minh trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở
kết luận bị cáo Đoàn văn L đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); nên Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phồ Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo với tội danh nêu trên là đúng người, đúng tội.
[3] Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, mục đích phạm tội là muốn có tiền tiêu xài cho bản thân. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc làm của mình là sai trái, là vi phạm pháp luật nhưng bản tính tham lam, biếng lười lao động nên bị cáo cố ý phạm tội. Tội phạm bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội, tạo tâm lý hoang mang cho nhân dân. Do đó, khi lượng hình, Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian thì mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Sau khi bị cáo phạm tội Cơ quan Cảnh sát điều tra cho bị cáo tại ngoại điều tra, bị cáo đã bỏ trốn và bắt được bị cáo theo Quyết định truy nã. Do đó, khi lượng hình Hội đồng xét xử lưu ý đến tình tiết này của bị cáo mà có mức án nghiêm.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng cân nhắc đến các tình tiết bị cáo thành khẩn khai báo và đã tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản kịp thời thu hồi giao trả cho bị hại, thiệt hại chưa xảy ra. Xét các tình tiết giảm nhẹ nêu trên để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt được quy định tại các điểm g, h, p Khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
[6] Về xử lý vật chứng của vụ án:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh đã làm thủ tục giao trả lại cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ gồm: 11 lupbê bằng đồng, 09 cục đồng ba chân, 09 cục đồng dư, theo Biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật được lập vào hồi 10 giờ 00 phút ngày 10/10/2011, Hội đồng xét xử ghi nhận.
[7] Về dân sự:
Bị hại là Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ đã nhận lại toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Khoản 1 Điều 138; điểm g, h, p Khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình
sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Căn cứ Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Đoàn văn L đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Đoàn văn L 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 11/8/2022.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu số tiền 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn là 15 (mười lăm) ngày tính kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, tính từ ngày nhận Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND TP. HCM; - VKSND H.BC; - CA H. BC; - Chi cục THADS H.BC; - Sở Tư pháp, TP. HCM; - Phòng hồ sơ, CA TP. HCM PV06; - Trại tạm giam đang giam, giữ bị cáo; - Bị cáo; - Đương sự; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (đã ký tên và đóng dấu) Nguyễn Hoàng Sơn |