- Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án Phan Hữu T tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Hữu T, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 14/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình:
- Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2025/HS-PT Ngày: 25 - 4 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hữu Sỹ
Các Thẩm phán: Ông Dương Viết Hải và bà Từ Thị Hải Dương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tú Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2025, Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình mở phiên tòa bằng hình thức trực tuyến, công khai với điểm cầu trung tâm tại Hội trường xét xử hình sự - Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Bình, để xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 35/2025/TLPT-HS ngày 03 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo Phan Hữu T và hai bị cáo khác, do kháng cáo của bị cáo Phan Hữu T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Bị cáo có kháng cáo: Phan Hữu T, sinh ngày 22/01/2004 tại huyện B, tỉnh Quảng Bình; giới tính: Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Thôn A, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; con ông Phan Văn D (đã chết) và bà Đỗ Thị L; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Quảng Bình. Có mặt.
Trong vụ án còn có bị cáo Hoàng Văn M và bị cáo Hồ Thế H nhưng không có kháng cáo và không liên quan đến nội dung kháng cáo nên Tòa án không triệu tập tham gia phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 04 giờ 30 phút ngày 11/6/2024, Phan Hữu T sử dụng tài khoản Messenger nhắn tin cho Hoàng Văn M hỏi mua 400.000 đồng ma túy hồng phiến. M nhắn tin lại đồng ý bán và bảo T chuyển tiền vào tài khoản của Hoàng Văn M. Sau khi M nhận được 400.000 đồng từ T chuyển đến, thì M bảo T lên cây xăng H đợi lấy ma túy hồng phiến. Khi lên đến cây xăng, trong lúc đợi lấy ma túy từ M, thì T nhắn tin và rủ Hồ Thế H cùng sử dụng ma túy, H đồng ý và bảo Tài xuống nhà của H. Một lúc sau, M ra cây xăng đưa cho T một gói nilong bên trong chứa ma túy hồng phiến. Tài trên đường xuống nhà H có ghé vào quán bên đường mua hai chai nước ngọt Sting. Khi tới nhà H, T đi vào phòng ngủ của H và đưa cho H một chai nước ngọt Sting để H đục lỗ rồi lấy ống thủy tinh gắn vào chai Sting và dùng bật lữa của H đề làm công cụ sử dụng trái phép chất ma túy. Sau khi H làm xong các công cụ sử dụng trái phép chất ma túy, T mở gói ma túy mua được từ M ra kiểm tra thì thấy có 05 viên ma túy hồng phiến. T lấy 01 viên ma túy hồng phiến đưa cho H đốt lên để cả hai cùng sử dụng. H và T vừa sử dụng hết một viên ma túy thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang và bị thu giữ 04 viên ma túy còn lại.
Cơ quan điều tra Công an huyện Bố Trạch tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hoàng Văn M, tại tổ dân phố 12, thị trấn H, huyện B, tỉnh Quảng Bình thu giữ được 01 túi nilong màu hồng, bên trong chứa 30 viên nén hình tròn màu hồng và 01 viên nén hình tròn màu xanh. Hoàng Văn M khai nhận số ma túy hồng phiến trên là của M đang cất giấu để sử dụng, bán kiếm lời và M đã bán cho Phan Hữu T 05 viên ma túy hồng phiến vào sáng ngày 11/6/2024.
Tại bản kết luận giám định số 626/KL-KTHS ngày 19/6/2024 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, kết luận: 30 viên nén hình tròn màu hồng (thu giữ tại nơi ở của M) là chất ma túy loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 2,796gam; 01 viên nén hình tròn màu xanh không phải là chất ma túy, khối lượng 0,091 gam. Tại bản kết luận giám định số 629/KL-KTHS ngày 19/6/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, kết luận: 04 viên nén hình tròn màu hồng là chất ma túy loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,37 gam (thu giữ khi bắt quả tang Phan Hữu T và Hồ Thế H).
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình đã quyết định: Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử:
+ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Hữu T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
+ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phan Hữu T 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 11/6/2024.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên phạt bị cáo Hoàng Văn M 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tuyên phạt bị cáo Hồ Thế H 02 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 10/3/2025 bị cáo Phan Hữu T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Phan Hữu T khai và thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung của bản án sơ thẩm. Bị cáo không kháng cáo về tội danh mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình, có cơ hội làm lại cuộc đời.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa phúc thẩm khẳng định bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch xử phạt bị cáo Phan Hữu T mức án 02 năm 06 tháng tù là phù hợp, không nặng. Tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo không xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ mới. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Hữu T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Phan Hữu T đã khai và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung của bản án sơ thẩm. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo khác trong vụ án và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định: Sáng ngày 11/6/2024, Phan Hữu T đã mua từ Hoàng Văn M 05 viên ma túy hồng phiến với giá 400.000 đồng để sử dụng. Sau khi có ma túy thì Phan Hữu T đã rủ thêm Hồ Thế H cùng sử dụng và được H đồng ý và bảo T mang ma túy đến nhà H để sử dụng. Khi Phan Hữu T cùng Hồ Thế H đang sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an bắt quả tang; khi cơ quan Công an vào bắt thì T và H đã sử dụng hết 01 viên ma túy, còn lại 04 viên ma túy bị cơ quan Công an thu giữ. Như vậy, bản án sơ thẩm đã xét xử và tuyên bị cáo Phan Hữu T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2.] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phan Hữu T, thấy rằng: Bị cáo T đã chủ động mua ma túy từ bị cáo M và chủ động rủ Hồ Thế H cùng nhau sử dụng; trên đường đến nhà H để sử dụng ma túy thì T đã mua thêm 02 chai nước ngọt để làm công cụ sử dụng ma túy. Với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo T đã thực hiện ở trên và bị cáo chỉ được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự thì mức án mà Tòa án sơ thẩm xử phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù là phù hợp, không nặng. Tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo T không xuất trình thêm tình tiết gì mới, nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo. Vì vậy, cần giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm.
. Về án phí: Kháng cáo của bị cáo Phan Hữu T không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự,
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Hữu T, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 14/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình:
- Áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, Xử phạt bị cáo Phan Hữu T 02 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo Phan Hữu T bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 11/6/2024.
2. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Về án phí: Bị cáo Phan Hữu T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (25/4/2025).
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Quảng Bình; - Phòng HSNVCS - Công an tỉnh QB; - TAND huyện Bố Trạch; - VKSND huyện Bố Trạch; - Chi cục THADS huyện Bố Trạch; - Bị cáo T; - Lưu Hồ sơ vụ án, VP, Tòa HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Hữu Sỹ |