vanban.org

Bản án 25/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu Tuyên án 10/05/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Vũ L (tên gọi khác: Thiên Hoàng T) phạm các tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” và “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.

1 Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 142; khoản 1 Điều 38; điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54; Điều 91; Điều 98; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Vũ L 03 (ba) năm tù, về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” . 2 Căn cứ khoản 1 Điều 145; khoản 1Điều 38; điểm b, q, s kho… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Vũ Luân - phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (điều 142 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Vũ L (tên gọi khác: Thiên Hoàng T) phạm các tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” và “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 103 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẠC L
TỈNH BẠC L
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2024/HS-ST
Ngày 16-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC L, TỈNH BẠC L

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Công Bằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê T Kiệt – Hiệu trưởng Trường tiểu học Lê Lợi, thành phố Bạc L.

2. Ông Lê Trường Hận – Bí thư Đảng ủy xã Hiệp Thành, thành phố Bạc L.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc L.

- Đại diện Vện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc L, tỉnh Bạc L tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Thúy - Kiểm sát Vên.

Trong ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Bạc L xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự thụ lý số 165/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2024, Thông báo về Vệc thay đổi thời gian mở phiên tòa xét sử số 02/TB-TA, ngày 14/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2024/HSST-QĐ, ngày 02/4/2024, đối với bị cáo:

- Bị cáo: Họ và tên: Lê Vũ L (tên gọi khác: Thiên Hoàng T), sinh ngày 19/9/2004, tại Cà Mau; Giới tính: Nam. Nơi cư trú: Số 51, đường Hoàng Diệu, Khóm 9, Phường 1, thành phố Bạc L, tỉnh Bạc L. Quốc tịch: Vệt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 3/12. Nghề nghiệp: Không. Con ông Lê Văn Tý, sinh năm 1983 và bà Võ Ngọc Mai, sinh năm 1983. Anh, em: 02 người (lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất là bị cáo). Tiền án, tiền sự: Không. Bị khởi tố bị can ngày 22/8/2023 và cho tại ngoại đến nay. (Có mặt).

Người đại diện hợp pháp của bị cáo L: Bà Võ Ngọc Mai, sinh năm 1983; Địa chỉ: Số 51, đường Hoàng Diệu, Khóm 9, Phường 1, thành phố Bạc L, tỉnh Bạc L. (có mặt)

Người bào chữa cho bị cáo L: Luật sư Nguyễn Vệt Q – Văn phòng Luật sư Trần Đức Hùng và cộng sự, Chi nhánh Bạc L – thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Bạc L. (có mặt)

- Bị hại: Em Tạ Ái V, sinh ngày 07/12/2009. Địa chỉ: Số 24/118, Khóm 2, Phường 2 , thành phố Bạc L, tỉnh Bạc L. (Vắng mặt do có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của em Tạ Ái V: ông Tạ Thành H. sinh năm 1978. Địa chỉ: Số 24/118, Khóm 2, Phường 2 , thành phố Bạc L, tỉnh Bạc L. (Vắng mặt do có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của em V: bà Trịnh Hồng N – Trợ giúp Vên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bạc L. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng tháng 5/2022, thông qua mạng xã hội Facebook, bị cáo Lê Vũ L quen biết và nảy sinh tình cảm yêu đương với em Tạ Ái V, sinh ngày 07/12/2009, nơi cư trú: Số 24/118, khóm 2, phường 2, thành phố Bạc L, tỉnh Bạc L. Từ tháng 8/2022 đến tháng 01/2023, bị cáo L đã 02 lần thực hiện hành V giao cấu với em V, cụ thể như sau:

- Lần thứ nhất: Khoảng đầu tháng 8/2022, bị cáo L nhắn tin rủ V qua nhà bị cáo L chơi, V đồng ý nên bị cáo L điều khiển xe đạp đến nhà rước V. Khi đến nhà bị cáo L, cả hai cùng nấu mì ăn rồi vào phòng ngồi trên nệm để nói chuyện. Sau khi nói chuyện một lúc, bị cáo L ôm, hôn và dùng tay sờ ngực, âm đạo rồi cởi quần áo của V ra, đồng thời tự cởi quần của mình và lấy bao cao su đã chuẩn bị sẳn đeo vào dương vật. V nằm phía dưới, bị cáo L quỳ gối đưa dương vật vào âm đạo của V để quan hệ tình dục khoảng 01 phút thì xuất tinh, xong cả hai đi tắm rồi đưa V về nhà. Tại thời điểm này, em V có độ tuổi là 12 tuổi 08 tháng, bị cáo L có độ tuổi 17 tuổi 11 tháng.

- Lần thứ hai: Khoảng giữa tháng 01/2023, bị cáo L tiếp tục rủ em V đến nhà chơi và thực hiện hành V giao cấu với em V tương tự như lần thứ nhất. Tại thời điểm này, em V có độ tuổi là 13 tuổi 01 tháng, bị cáo L có độ tuổi 18 tuổi 04 tháng.

Ngày 13/3/2023, ông Tạ Thành Hiếu (cha ruột của em Tạ Ái V) phát hiện sự Vệc nên đến Công an phường 1, thành phố Bạc L, tỉnh Bạc L để trình báo sự Vệc.

Tại Bản kết luận giám định xâm hại tình dục số: 17/KLXHTD-TTPY, ngày 30/5/2023, của Trung tâm Pháp y tỉnh Bạc L đối với em Tạ Ái V, kết luận:

“1. Kết quả chính:

Màng trinh: Dạng vành khăn, kích thước lỗ màng trinh: 1,2 x 1cm, mất liên tục ở vị trí khoảng 01 giờ, 04 giờ, 07 giờ, bờ tù không rớm máu.

2. Kết luận:

- Màng trinh rách cũ ở vị trí khoảng 01 giờ, 04 giờ, 07 giờ.

- Vệc rách màng trinh theo Thông tư 22 không quy định tỷ lệ.”

Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số: 196/2023/KLGĐ, ngày 09/6/2023 của Trung tâm pháp y Tâm thần khu vực Tây Nam Bộ đối với Lê Vũ L, kết luận:

“- Về y học: Trước, trong và sau khi xâm hại tình dục người khác (khoảng tháng 8/2022) và hiện tại: Đương sự có bệnh lý tâm thần: Các rối loạn hỗn hợp về hành V và cảm xúc (F92-ICD10).

- Về năng lực: Tại thời điểm xâm hại tình dục với người khác (khoảng tháng 8/2022) và hiện tại: Đương sự hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành V”.

Tại Cáo trạng số 160/CT-VKS-HS ngày 16 tháng 11 năm 2023 của Vện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc L đã truy tố bị cáo Lê Vũ L về các tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” và “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 142 và khoản 1 Điều 145 Bộ luật Hình sự.

Kiểm sát Vên thực hành quyền công tố tại phiên toà có quan điểm không thay đổi so với bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Tuy nhiên, cũng cần xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa có tiền án, tiền sự; Tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả; Bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành V; Có ông ngoại (ông Võ Ngọc Phước) là người có công với cách mạng; Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Khi thực hiện hành V phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” bị cáo chưa đủ 18 tuổi, khả năng nhận thức hành V còn hạn chế, Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Lê Vũ L phạm các tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” và “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.

- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 142; điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 98; khoản 3 Điều 54; khoản 1 Điều 38; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Vũ L mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội“Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 145; điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54; khoản 1 Điều 38; Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Vũ L mức án từ 09 tháng đến 01 năm tù về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.

Căn cứ khoản 3 Điều 103 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Vũ L mức án chung của hai tội là 03 năm 09 tháng đến 04 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Tạ Ái V và người đại diện hợp pháp của bị hại là ông Tạ Thành Hiếu (cha ruột của V) đã nhận 20.000.000 đồng nên không có yêu cầu gì khác.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Vũ L trình bày: Thống nhất với tội danh và điều khoản mà Vện kiểm sát áp dụng để truy tố bị cáo. Tuy nhiên do bị cáo thực hiện hành V phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” khi ở độ tuổi từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nên cần xem xét đến khả năng nhận thức còn hạn chế của bị cáo về tính chất nguy hiểm của hành V phạm tội. Bị cáo phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo và đã thực sự ăn năn hối cải; Tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả; Bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành V; Gia định bị cáo khó khăn kinh tế; Có ông ngoại là thương bình và là người có công với cách mạng; Bị hại có đơn xin bải nại và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết quy định tại điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54; khoản 1 Điều 65; Điều 91; Điều 98 và khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự để quyết định mức hình phạt, xem xét cho bị cáo hưởng án treo, để bị cáo ở ngoài xã hội, sửa chữa lỗi lầm, học tập, lao động phụ giúp gia đình.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận; bị cáo thừa nhận hành V phạm tội, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo phụ giúp gia đình.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo không có ý kiến tranh luận, thống nhất với quan điểm bào chữa của người bào chữa, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo phụ giúp gia đình.

Người bào chữa cho bị hại Tạ Ái V trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Vũ L, phạm các tội Hiếp dâm người dưới 16 tuổi và Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, theo khoản 1 Điều 142 và khoản 1 Điều 145 của Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo L bằng một mức án thật nghiêm khắc. Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu nên đề nghị không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành V, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Bạc L, Điều tra Vên, Vện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc L, Kiểm sát Vên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo, bị hại, người đại diện theo pháp luật cho bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành V, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành V, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của bị hại Tạ Ái V và đại diện hợp pháp cho bị hại ông Tạ Thành Hiếu: Bị hại và đại diện hợp pháp cho bị hại vắng mặt tại phiên tòa, bị hại và đại diện hợp pháp cho bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt nộp tại Tòa án. Trong quá trình điều tra bị hại Tạ Ái V và đại diện hợp pháp cho bị hại ông Tạ Thành Hiếu đã khai rõ sự Vệc, đại diện Vện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc L cho rằng Vệc vắng mặt của bị hại và đại diện hợp pháp cho bị hại không ảnh hưởng đến Vệc xét xử, nên đề nghị xét xử vắng mặt bị hại và người đại diện hợp pháp cho bị hại. Hội đồng xét xử xét thấy chứng cứ trong hồ sơ trong vụ án đã đầy đủ, Vệc vắng mặt bị hại Tạ Ái V và đại diện hợp pháp cho bị hại là ông Tạ Thành Hiếu không ảnh hưởng Vệc xét xử và đề nghị của đại diện Vện kiểm sát là phù hợp, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng trên.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành V phạm tội phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, của những người làm chứng, biên bản xác định địa điểm và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy, giữa bị cáo L và bị hại Tạ Ái V quen biết nhau và cùng tự nguyện quan hệ tình dục 02 lần, sự Vệc này đã được chính bị cáo và bị hại thừa nhận, cụ thể:

- Lần thứ nhất: Khoảng đầu tháng 8/2022, bị cáo L nhắn tin rủ V qua nhà bị cáo L chơi, V đồng ý nên bị cáo L điều khiển xe đạp đến nhà rước V. Khi đến nhà bị cáo L, cả hai cùng nấu mì ăn rồi vào phòng ngồi trên nệm để nói chuyện. Sau khi nói chuyện một lúc, bị cáo L ôm, hôn và dùng tay sờ ngực, âm đạo rồi cởi quần áo của V ra, đồng thời tự cởi quần của mình và lấy bao cao su đã chuẩn bị sẳn đeo vào dương vật. V nằm phía dưới, bị cáo L quỳ gối đưa dương vật vào âm đạo của V để quan hệ tình dục khoảng 01 phút thì xuất tinh, xong cả hai đi tắm rồi đưa V về nhà. Tại thời điểm này, căn cứ theo giấy chứng sinh, giấy khai sinh thì em V có độ tuổi là 12 tuổi 08 tháng; Căn cứ theo giấy khai sinh, sổ đăng ký khai sinh, căn cước công dân, sổ hộ khẩu thì bị cáo L có độ tuổi 17 tuổi 11 tháng. Hành V của bị cáo Lê Vũ L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 142 của Bộ luật Hình sự.

- Lần thứ hai: Khoảng giữa tháng 01/2023, bị cáo L tiếp tục rủ em V đến nhà chơi và thực hiện hành V giao cấu với em V tương tự như lần thứ nhất. Tại thời điểm này, căn cứ theo giấy chứng sinh, giấy khai sinh thì em V có độ tuổi là 13 tuổi 01 tháng. Căn cứ theo giấy khai sinh, sổ đăng ký khai sinh, căn cước công dân, sổ hộ khẩu thì bị cáo L có độ tuổi 18 tuổi 04 tháng. Hành V của bị cáo Lê Vũ L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” được quy định tại khoản 1 Điều 145 của Bộ luật Hình sự.

Lời khai của bị cáo L trong giai đoạn điều tra, truy tố và lời khai bị hại Tạ Ái V phù hợp thời gian, địa điểm, … thực hiện quan hệ tình dục với nhau 02 lần tại nhà của bị cáo L tại số 51, đường Hoàng Diệu, Khóm 9, Phường 1, thành phố Bạc L, tỉnh Bạc L. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành V của bị cáo Lê Vũ L nêu trên đã cấu thành các tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” và “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 142 và khoản 1 Điều 145 Bộ luật Hình sự mà Vện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc L truy tố bị cáo Lê Vũ L là hoàn toàn đúng người, đúng tội.

Xét tính chất, hành V phạm tội: Hành V nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mặc dù Vệc quan hệ tình dục là sự đồng thuận của hai bên, giữa bị cáo và bị hại có mối quan hệ tình cảm yêu thương với nhau. Tuy nhiên, tính đến ngày bị cáo thực hiện hành V giao cấu với bị hại lần thứ nhất vào tháng 8/2022 thì bị hại có độ tuổi 12 tuổi 08 tháng, ở độ tuổi này nhận thức pháp luật của bị hại còn hạn chế, bên cạnh đó trong mối quan hệ tình cảm nam nữ dễ bị cảm tính, hành V của bị cáo đã xâm hại đến sự phát triển bình thường về thể chất, tâm, sinh lý cũng như gây tổn hại tinh thần và danh sự nhâm phẩm đối với bị hại dưới 13 tuổi. Mục đích của bị cáo là lợi dụng sự non nớt về nhận thức của bị hại để thỏa mãn nhu cầu tình dục của bản thân nên cần phải bị xử lý hình sự. Ngoài ra hành V của bị cáo còn gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự xã hội tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử cần phải có một hình phạt nghiêm khắc, cần thiết phải cách lý bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục bị cáo ý thức tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành V phạm tội của mình; Tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả; Bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành V; Gia đình bị cáo khó khăn kinh tế; Có ông ngoại là thương bình và là người có công với cách mạng; Bị hại có đơn xin bải nại và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Xét thấy, bị cáo L có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo L dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp với hành V phạm tội của bị cáo.

Thời điểm bị cáo thực hiện hành V Hiếp dâm người dưới 16 tuổi, bị cáo Lê Vũ L có độ tuổi 17 tuổi 11 tháng, khả năng nhận thức hành V còn hạn chế nên Hội đồng xét xử áp dụng các điều luật đối với người dưới 18 tuổi phạm tội để xem xét quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận số tiền bồi thường là 20.000.000 đồng và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Người bào chữa cho bị cáo thống nhất về tội danh và điều khoản truy tố nên không tranh luận. Quan điểm bào chữa của người bào chữa cho bị cáo về Vệc đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để cho bị cáo được hưởng án treo Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” và “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Đối với tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” bị cáo trên 18 tuổi, vì vậy bị cáo không đủ tình tiết để được hưởng án treo theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại về Vệc cần có mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành V phạm tội của bị cáo nhằm răn đe phòng ngừa chung cho tội phạm là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo Lê Vũ L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của đại diện Vện kiểm sát nhân thành phố Bạc Liêu về tội danh, hình phạt và các nội dung khác đối với bị cáo là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị cáo và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Lê Vũ L (tên gọi khác: Thiên Hoàng T) phạm các tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” và “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.

1.1 Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 142; khoản 1 Điều 38; điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54; Điều 91; Điều 98; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Vũ L 03 (ba) năm tù, về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” .

1.2 Căn cứ khoản 1 Điều 145; khoản 1Điều 38; điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Vũ L 09 (chín) tháng tù, về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.

Căn cứ khoản 3 Điều 103 của Bộ luật Hình sự: Buộc bị cáo Lê Vũ L phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Lê Vũ L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

3. Về quyền kháng cáo: Án xử kín, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại, người đại diện theo pháp luật của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ