vanban.org

Bản án 25/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai Tuyên án 13/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ Luật hình sự.

Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 ; Điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 0,194 gam Heroine niêm phong của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai; Trên một mặt ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ trong quá trình bắt quả tang đối với … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc Nam - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ Luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ S-TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2024/HS-ST
Ngày 13/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ S, TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Dung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Xuân Chính;

Ông Lý Láo Tả

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Cao Hải Lanh - Thư ký Toà án nhân dân thị xã S, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã S, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Lương Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân thị xã S, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2024 đối với:

Bị cáo Nguyễn Ngọc N; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 24/04/1991 tại thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái. ĐKHKTT: Thôn Đắng Con, xã Âu Lâu, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái. Nơi ở: Tổ 5, phường Sa Pa, thị xã S, tỉnh Lào Cai. Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông Nguyễn Văn Đào và bà Phạm Thị Bình. Vợ: Hoàng Minh Tâm (sinh năm 1991, trú tại thị trấn Khánh Yên, huyện V, tỉnh Lào Cai).

Tiền án: 01 tiền án, ngày 21/3/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái xử phạt 40.000.000 đồng về tội Đánh bạc theo Bản án số 05/2022/HSST, bị cáo chấp hành xong tiền phạt, án phí và tiền truy thu nộp ngân sách Nhà nước ngày 28/02/2024, đến nay chưa được xóa án tích;

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 25/11/2009, bị cáo còn bị Tòa án nhân dân huyện Trấn Yên xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội Đánh bạc. Bị cáo đã chấp hành xong, đến nay đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/02/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thị xã S. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 12 giờ 30 phút ngày 26/02/2024, Tổ công tác Công an thị xã S phối hợp với Công an xã Hoàng Liên, làm nhiệm vụ tại khu vực thôn Cát Cát, xã Hoàng Liên, thị xã S phát hiện Nguyễn Ngọc N (sinh ngày 24/04/1991, trú tại thôn Đắng Con, xã Âu Lâu, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái) đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream BKS 24B1-715.34 có biểu hiện nghi vấn, phạm tội về ma tuý nên đã mời về Trụ sở Công an xã Hoàng Liên làm việc. Tại đây tổ công tác đã mời ông Má Chỉnh Vình (sinh năm 1988, trú tại thôn Lao Chải San 2, xã Hoàng Liên, thị xã S) làm người chứng kiến để tiến hành kiểm tra đối với Nguyễn Ngọc N. Tiến hành kiểm tra, Nguyễn Ngọc N đã tự lấy từ túi quần bên trái, phía sau, đang mặc trên người ra 01 (một) gói giấy, bên trong chứa chất bột khô vón cục, màu trắng và khai nhận là Heroine. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định. Ngoài ra còn thu giữ của Nguyễn Ngọc N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro, Seri XDK4FCY5VV lắp sim số 0862.992.882 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream BKS 24B1-715.34, xe cũ đã qua sử dụng, số khung 08098Y038148, số máy HA08E1045858

Về nguồn gốc số ma tuý đã thu giữ, Nguyễn Ngọc N khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 26/02/2024, Nguyễn Ngọc N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream BKS 24B1-715.34 đi từ trung tâm thị xã S đến thôn Cát Cát, xã Hoàng Liên, thị xã S, mục đích để tìm mua ma tuý về sử dụng cho bản thân. Tại đây, Nguyễn Ngọc N gặp một người đàn ông mặc quần áo dân tộc H’mông (Nam không biết nhân thân, lai lịch) có biểu hiện giống người nghiện ma tuý nên tiến đến hỏi “Anh có ma tuý bán không”, người đàn ông trả lời “Có, lấy bao nhiêu” thì Nam nói “Lấy hai trăm”. Người đàn ông này lấy trong người ra 01 gói giấy bên trong có chứa ma tuý Heroine đưa cho Nam, Nam đưa lại cho người này số tiền 200.000 đồng. Sau đó, Nam cầm gói ma tuý cho vào túi quần phía sau, bên trái đang mặc trên người rồi điều khiển xe mô tô đi về hướng trung tâm thị xã S. Khi đi đến ngã ba thôn Cát Cát, xã Hoàng Liên thì bị kiểm tra, bắt giữ cùng tang vật.

Tại bản kết luận giám định số 96/KL-GĐMT ngày 29/02/2024 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lào Cai, kết luận: “0,292 gam chất bột khô, vón cục, màu trắng gửi giám định là loại chất ma tuý Heroine”.

Cáo trạng số 24/CT-VKSSP ngày 14/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã S đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Ngọc N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như kết luận điều tra của cơ quan điều tra và bản cáo trạng viện kiểm sát đã truy tố. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã S giữ quyền công tố luận tội và tranh luận tại phiên tòa. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã S đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng 01 đến 01 năm 06 tháng tù. Về vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,194 gam Heroine niêm phong của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai; Trên một mặt ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ trong quá trình bắt quả tang đối với Nguyễn Ngọc N ngày 26/02/2024 tại thôn Cát cát, xã Hoàng Liên, thị xã S, tỉnh Lào Cai. Tại mép dán của bì thư có chữ ghi rõ họ tên của Đặng Minh Đổng, Trần Ngọc Dũng, Nguyễn Việt Xô, Nguyễn Ngọc Nam, có đóng 2 dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai.”; Tạm giữ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro, Seri XDK4FCY5VV lắp sim số 0862.992.882 là tài sản của Nguyễn Ngọc N để đảm bảo công tác thi hành án. Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị phạt bổ sung đối với bị cáo; Tuyên án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Ngọc N nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, cơ quan truy tố điều tra viên; kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

Về nội dung:

Về xác định tội phạm và áp dụng pháp luật: Ngày 26/02/2024, Nguyễn Ngọc N đi từ trung tâm thị xã S đến thôn Cát Cát, xã Hoàng Liên, thị xã S, mục đích để tìm mua ma tuý về sử dụng cho bản thân. Nguyễn Ngọc N mua của người dân tộc H’mông 01 gói giấy bên trong có chứa ma tuý Heroine với giá 200.000 đồng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, kết luận giám định, cũng như các lời khai khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi tàng trữ 0,292 gam ma túy Heroine của bị cáo đã cấu thành tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Nguyễn Ngọc N là người có sức khỏe, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Nhận thức rõ pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép chất ma túy nhưng bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, thiếu rèn luyện bản thân, coi thường pháp luật, do bản thân là người nghiện nên bị cáo Nguyễn Ngọc N cố ý thực hiện hành vi mua 0,292 gam ma túy Hêroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, vì vậy Nguyễn Ngọc N phải chịu trách nhiệm với hành vi “ Tàng trữ phép chất ma túy”. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thị xã S, vì vậy cần phải xử lý bị cáo nghiêm minh trước pháp luật, có một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 25/11/2009, bị cáo còn bị Tòa án nhân dân huyện Trấn Yên xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội Đánh bạc. Bị cáo đã chấp hành xong, đến nay đã được xóa án tích. Bị cáo có 01 tiền án, ngày 21/3/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái xử phạt 40.000.000 đồng về tội Đánh bạc theo Bản án số 05/2022/HSST, bị cáo chấp hành xong tiền phạt, án phí và tiền truy thu nộp ngân sách Nhà nước ngày 28/02/2024, đến nay chưa được xóa án tích. Do đó, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo có ông ngoại là Phạm Trung Tốn được Nhà nước tặng thưởng Huy chương vì sự nghiệp giao thông vận tải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, căn cứ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng hành vi phạm tội của bị cáo cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Về vật chứng của vụ án:

- Đối với 0,194 gam Heroine cùng toàn bộ niêm phong. Đây là vật nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro, Seri XDK4FCY5VV lắp sim số 0862.992.882 là tài sản của Nguyễn Ngọc N, quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, tuy nhiên bị cáo còn phải thi hành tiền án phí cần tạm giữ đảm bảo việc thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Ngọc N không có tài sản riêng không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về vấn đề khác:

- Đối với người đàn ông dân tộc H.Mông đã bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Ngọc N tại thôn Cát Cát, xã Hoàng Liên, thị xã S, tỉnh Lào Cai. Ngoài lời khai của bị cáo ra, Cơ quan điều tra không có căn cứ nào khác để xác minh nhân thân, lai lịch của người này nên không đề cập xử lý, xét thấy phù hợp.

- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream BKS 24B1-715.34, xe cũ đã qua sử dụng, số khung 08098Y038148, số máy HA08E1045858 thu giữ của Nguyễn Ngọc N. Nguyễn Ngọc N mượn anh Ninh, khi đi mua ma túy bị cáo không sử dụng xe để cất giấu ma túy, anh Ninh không biết và liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, Cơ quan CSĐT Công an thị xã S đã ra quyết định xử lý vật chứng, trao trả chiếc xe trên cho anh Bùi Hải Ninh là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo bị kết tội nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ Luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc N 01 ( một) năm 03 ( ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 26/2/2024.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 ; Điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS.

Tịch thu tiêu hủy 0,194 gam Heroine niêm phong của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai; Trên một mặt ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ trong quá trình bắt quả tang đối với Nguyễn Ngọc N ngày 26/02/2024 tại thôn Cát cát, xã Hoàng Liên, thị xã S, tỉnh Lào Cai. Tại mép dán của bì thư có chữ ghi rõ họ tên của Đặng Minh Đổng, Trần Ngọc Dũng, Nguyễn Việt Xô, Nguyễn Ngọc Nam, có đóng 2 dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai.”

Tạm giữ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro, Seri XDK4FCY5VV lắp sim số 0862.992.882 để đảm bảo việc thi hành án.

(Vật chứng được thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 17 /5 /2024)

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Ngọc N phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Nguyễn Ngọc N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ